Tin tức & Sự kiện

TƯ VẤN CHỌN NGÀNH, KHÔNG NGỜ LẠI “CHỌN” CẢ BẠN ĐỜI
TƯ VẤN CHỌN NGÀNH, KHÔNG NGỜ LẠI “CHỌN” CẢ BẠN ĐỜI TƯ VẤN CHỌN NGÀNH, KHÔNG NGỜ LẠI “CHỌN” CẢ BẠN ĐỜI! Mùa tuyển sinh không chỉ là lúc các sĩ tử chọn ngành, chọn trường, mà đôi khi còn là khởi đầu của những mối duyên đẹp. Câu chuyện của Nguyễn Hồng Quân (K61 Địa chất học Chất lượng cao) và Nguyễn Hồng Ngọc (K62 Quản lý Tài nguyên và Môi trường) là một minh chứng như thế. Mọi chuyện bắt đầu từ mùa tuyển sinh năm 2017. Khi đang tìm hiểu về các ngành học của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên trên các nhóm tư vấn, Hồng Ngọc được “đàn anh” Nguyễn Hồng Quân nhiệt tình giải đáp thắc mắc và giới thiệu vào học ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường của Khoa Địa chất. Ít lâu sau, Ngọc trở thành tân sinh viên K62 QLTN và MT và đảm nhiệm vai trò Bí thư Chi đoàn của lớp. Có lẽ khi ấy, cả hai cũng không ngờ rằng lời tư vấn năm nào lại mở đầu cho một hành trình yêu thương kéo dài gần 9 năm. Sau khi tốt nghiệp, Hồng Quân thực hiện hai năm nghĩa vụ quân sự, rồi trở lại Khoa Địa chất học cao học, tham gia trợ giảng. Hiện nay, Quân là nghiên cứu sinh và giảng viên chính thức của Khoa Địa chất, đồng thời tham gia giảng dạy nhiều học phần cho sinh viên từ năm nhất đến năm cuối. Mùa hè năm nay, Quân có dịp sang Australia để trao đổi học thuật và phát triển các ý tưởng cho luận án tiến sĩ. Trong khi đó, Hồng Ngọc được nhiều bạn trẻ biết đến với vai trò người mẫu ảnh và nhà sáng tạo nội dung số, đồng thời vẫn luôn giữ sự gắn bó với Khoa Địa chất. Cuối tháng 3/2026, sau gần 9 năm đồng hành, Hồng Quân và Hồng Ngọc đã chính thức về chung một nhà. Có những mối duyên bắt đầu từ một lời tư vấn tuyển sinh, lớn lên trong những năm tháng đại học và đơm hoa kết trái dưới mái nhà chung Khoa Địa chất. Có lẽ đó cũng là một minh chứng thật đẹp rằng Địa chất học và Quản lý Tài nguyên và Môi trường không chỉ đồng hành trong học tập và nghiên cứu, mà đôi khi còn gắn kết cả những hành trình tuổi trẻ và hạnh phúc của cuộc đời. Chúc Hồng Quân và Hồng Ngọc luôn hạnh phúc, thành công và tiếp tục lan tỏa tình yêu với khoa học Trái đất đến các thế hệ sinh viên. H.N
NGƯỜI ĐẶT TÊN HẺM VỰC TU SẢN LÀ AI
NGƯỜI ĐẶT TÊN HẺM VỰC TU SẢN LÀ AI NGƯỜI ĐẶT TÊN HẺM VỰC TU SẢN LÀ AI? Hẻm vực Tu Sản bên dòng Nho Quế từ lâu đã trở thành một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của Cao nguyên đá Đồng Văn. Cái tên “Tu Sản” xuất hiện dày đặc trên báo chí, bản đồ và các nền tảng du lịch, khiến nhiều người nghĩ rằng đây là một địa danh cổ đã tồn tại từ bao đời. Nhưng ít ai biết rằng người đặt tên cho hẻm vực Tu Sản chính là GS.TS. Tạ Hòa Phương, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Địa chất lịch sử, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN. Trong quá trình nghiên cứu các di sản địa chất trên Cao nguyên đá Đồng Văn, thầy muốn tìm một cái tên vừa gợi sắc thái vùng cao, vừa thể hiện giá trị đặc biệt của hẻm vực kỳ vĩ bên dòng Nho Quế. Kể lại câu chuyện này, GS. Tạ Hòa Phương cho biết: “Trong vùng có nhiều đồng bào dân tộc khác nhau. Chẳng hạn, tại bản Tà Làng gần đó có cả người Tày, người Giáy và người H’Mông cùng sinh sống. Tôi biết láng máng rằng người Tày dùng chữ ‘tu’ đứng trước nhiều từ khác để chỉ con vật hoặc đồ vật, thí dụ ‘tu cáy’ là con gà, ‘tu vài’ là con trâu, ‘tu ảng’ là cái cổng… Vì thế, để đặt tên cho hẻm vực kỳ vĩ ấy, trước hết tôi dùng chữ ‘Tu’ cho có không khí ‘rừng rú’. Tiếp đến, tôi đã khẳng định hẻm vực này là một di sản địa chất, nhưng gọi ‘Tu Di Sản’ thì ngang quá, nên tôi gạch bỏ chữ ‘Di’, chỉ giữ lại ‘Tu Sản’.” [Trích Quang Hưng, Báo Thời Nay số 1723, trang 12 : Chuyện đặt tên hẻm Tu Sản] Tên gọi này lần đầu tiên xuất hiện trong bài báo khoa học “Một số giá trị địa chất – cảnh quan vùng cao nguyên đá Đồng Văn – Mèo Vạc đáp ứng xây dựng Công viên địa cảnh”, công bố năm 2008 trên Tạp chí Các Khoa học về Trái Đất. Từ một tên gọi do nhà địa chất đề xuất, “Tu Sản” dần đi vào đời sống và được cộng đồng cũng như ngành du lịch đón nhận một cách tự nhiên, đến mức ngày nay hầu như không ai còn đặt câu hỏi về nguồn gốc của nó. MỘT ĐỜI SAY MÊ VỚI NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA ĐÁ GS.TS. Tạ Hòa Phương có gốc quê ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng và Nam Sách, Hải Dương. Thầy sinh năm 1949 tại Đại Từ, Thái Nguyên, trong thời gian gia đình sơ tán; năm nay thầy bước sang tuổi 77. Năm 1966, thầy được cử sang Liên Xô học tập. Sau một năm học dự bị tiếng Nga tại Kiev, thầy theo học ngành Địa chất tại Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Voronezh và tốt nghiệp năm 1972. Trở về nước, thầy công tác tại Khoa Địa chất-Địa lý, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN. Thầy gắn bó với công tác giảng dạy và nghiên cứu tại Khoa cho đến khi nghỉ công tác ở tuổi 70, trở thành một trong những nhà giáo có thời gian gắn bó lâu năm nhất với Nhà trường. Lĩnh vực chuyên môn chính của thầy là cổ sinh – địa tầng và di sản địa chất. Tính từ năm 1975, thầy đã thực hiện hơn 50 chuyến khảo sát địa chất tại Cao nguyên đá Đồng Văn. Một trong những đóng góp khoa học đáng chú ý của thầy là xác lập ranh giới giữa hai bậc Frasni và Famen của kỷ Devon tại khu vực đèo Si Phai. Ranh giới này trùng với ranh giới giữa hai đới vi cổ sinh của nhóm hóa thạch răng nón và được đánh giá là một di sản địa chất có ý nghĩa quốc tế. Thầy còn tham gia nghiên cứu, nhận diện và đặt tên cho một số di sản địa chất khác trên Cao nguyên đá, trong đó có nhóm tượng Thạch Sơn Thần ở Quản Bạ. Những công trình khoa học cùng hoạt động phổ biến kiến thức của thầy đã giúp cộng đồng hiểu rõ hơn giá trị của các cao nguyên đá, hẻm vực, hang động và hóa thạch – những trang sử tự nhiên được lưu giữ trong lòng đất. Với trách nhiệm của một nhà khoa học, thầy cũng nhiều lần tham gia phản biện các phương án khai thác, phát triển du lịch tại những khu vực di sản địa chất, góp phần thúc đẩy việc sử dụng hợp lý, bảo tồn lâu dài và phát huy bền vững các giá trị thiên nhiên quý báu. Sau khi nghỉ hưu, thầy vẫn tiếp tục nghiên cứu, viết sách và tham gia một số chuyến thám hiểm hang động đầy thử thách. Năm 2023, thầy chủ biên chuyên khảo song ngữ Việt – Anh “Kỳ quan hang động Quảng Bình Việt Nam/Cave Wonders in Quang Binh Vietnam”. Công trình được ra mắt như một ấn phẩm đặc biệt nhân dịp kỷ niệm 20 năm Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. MỘT NHÀ ĐỊA CHẤT – MỘT NHÀ VĂN HÓA Năm 2009, khi nhắc đến GS.TS. Tạ Hòa Phương, TS. Kiều Quý Nam (Viện Địa chất) từng nhận xét rằng sẽ chưa đầy đủ nếu chỉ gọi thầy là một nhà địa chất. Những đóng góp của thầy không dừng lại ở nghiên cứu khoa học, bảo tồn và quảng bá di sản, mà còn trải rộng sang văn chương, dịch thuật và nhiếp ảnh. Vì thế, theo TS. Kiều Quý Nam, cần gọi thầy là một nhà văn hóa. Với bút danh Tạ Phương, thầy là nhà thơ, dịch giả và hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1999, thầy giành giải Nhất cuộc thi dịch thơ Pushkin do Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam, Tuần báo Văn nghệ và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây tổ chức nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh đại thi hào Nga. Bạn đọc biết đến thầy qua nhiều bản dịch thơ Pushkin, Lermontov và đặc biệt là Sergey Esenin. Thầy là một trong những dịch giả Việt Nam dành nhiều tâm huyết và chuyển ngữ nhiều thơ Esenin nhất. Hiện thầy đã hoàn thành bản thảo bộ sách “Sergey Esenin – Tiếng thơ buồn xứ bạch dương”, dày hơn 1.000 trang, dự kiến xuất bản trong năm 2026. Chính thầy cũng vẽ chân dung Esenin giữa rừng bạch dương mùa thu vàng để làm tranh bìa cho bộ sách. Thầy còn làm thơ về những miền đất từng gắn bó trong các chuyến khảo sát. Từ hai bài thơ “Vệt nắng cuối cùng” và “Giấc mơ” của Tạ Phương, nhạc sĩ Hoàng Lân đã lựa chọn lời thơ để sáng tác ca khúc “Khoảnh khắc Mã Pì Lèng”, do ca sĩ Mạnh Hà thể hiện. Mang âm hưởng dân ca Mông, ca khúc khắc họa vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của đèo Mã Pì Lèng, dòng Nho Quế và hẻm vực Tu Sản. Tại buổi giới thiệu tác phẩm của Hội Nhạc sĩ Hà Nội ngày 21/3/2026, ca khúc được bình chọn là tác phẩm hay nhất của chương trình. Gần đây, “Khoảnh khắc Mã Pì Lèng” còn được sử dụng trong video quảng bá tuyển sinh của Khoa Địa chất. Từ những chuyến khảo sát địa chất đến thơ ca, âm nhạc và hoạt động truyền cảm hứng cho sinh viên, tình yêu của thầy dành cho miền cao nguyên đá vẫn tiếp tục được lan tỏa theo một cách thật đẹp. Không chỉ nghiên cứu, viết sách, làm thơ và dịch thuật, GS.TS. Tạ Hòa Phương còn có tài nhiếp ảnh, vẽ tranh, chơi piano và tập yoga. Những niềm say mê tưởng như rất khác nhau ấy đều gặp nhau ở tình yêu dành cho thiên nhiên và cái đẹp. Ở tuổi 77, thầy vẫn tiếp tục nghiên cứu, viết và sáng tạo. Đóng góp của thầy không chỉ nằm ở những công trình cổ sinh – địa tầng hay nghiên cứu di sản địa chất, mà còn ở khả năng đưa tri thức khoa học đến gần hơn với cuộc sống, giúp cộng đồng hiểu, trân trọng và có ý thức gìn giữ những báu vật thiên nhiên của đất nước. Và có lẽ, trong số những dấu ấn đặc biệt ấy, câu chuyện một nhà địa chất lặng lẽ đặt tên “Tu Sản”, để rồi cái tên ấy trở thành một phần của địa lý và ký ức cộng đồng, vẫn là câu chuyện thú vị mà ít người biết đến. Chi tiết về câu chuyện đặt tên hẻm vực Tu Sản, mời bạn đọc xem bài viết của tác giả Quang Hưng trên Báo Thời Nay – ấn phẩm của Báo Nhân Dân (số 1723, tr. 12): Chuyện đặt tên hẻm Tu Sản https://nhandan.vn/chuyen-dat-ten-hem-tu-san-post976727.html H.N (23.7.2026)
THƯ CẢM ƠN CỰU SINH VIÊN
THƯ CẢM ƠN CỰU SINH VIÊN THƯ CẢM ƠN Kính gửi các thế hệ cựu sinh viên Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thân mến, Vừa qua, chương trình “Gặp mặt Ban điều hành Chi hội Cựu sinh viên Khoa Địa chất và Đại diện Cựu sinh viên các khóa” đã diễn ra thành công trong không khí đầm ấm, nghĩa tình. Tôi rất xúc động khi được đón các anh chị từ nhiều thế hệ trở về mái trường thân yêu, cùng ôn lại những kỷ niệm đẹp và chia sẻ những kỳ vọng cho tương lai của Khoa. Buổi gặp mặt càng thêm ý nghĩa khi chúng ta chính thức ra mắt Ban điều hành Chi hội Cựu sinh viên Khoa Địa chất gồm 23 thành viên, do TS. Đàm Quang Minh làm Trưởng ban. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra một giai đoạn kết nối chặt chẽ hơn giữa Khoa và cộng đồng cựu sinh viên. Giá trị lớn nhất của chương trình không chỉ nằm ở sự hội ngộ, mà còn ở tinh thần đồng hành và cam kết hành động. Chúng ta đã thống nhất lựa chọn một ngày cố định hằng năm để tổ chức gặp mặt cựu sinh viên, xây dựng một điểm hẹn truyền thống cho các thế hệ. Đồng thời, các anh chị cũng bày tỏ quyết tâm tăng cường hợp tác, hỗ trợ Khoa trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực. Trải qua gần 60 năm xây dựng và phát triển, Khoa Địa chất tự hào đã đào tạo nhiều thế hệ nhà khoa học, chuyên gia, kỹ sư và nhà quản lý đang đóng góp tích cực cho đất nước. Thành công của các anh chị chính là niềm tự hào của Khoa và là minh chứng cho những giá trị tri thức, bản lĩnh và trách nhiệm mà Khoa luôn gìn giữ. Sự phát triển của Khoa hôm nay luôn mang đậm dấu ấn đóng góp của các thế hệ cựu sinh viên. Trong giai đoạn mới, sự đồng hành của các anh chị tiếp tục là nguồn lực quý báu đối với sự phát triển của Khoa. Chúng tôi mong nhận được sự chia sẻ, hỗ trợ trong việc hoàn thiện chương trình đào tạo, kết nối thực tập và việc làm, hỗ trợ học bổng, tham gia cố vấn học thuật, hướng dẫn nghiên cứu khoa học, cũng như hợp tác trong các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao tri thức. Thay mặt tập thể cán bộ, giảng viên và sinh viên Khoa Địa chất, tôi xin chân thành cảm ơn sự hiện diện, những ý kiến tâm huyết và tình cảm mà các anh chị đã dành cho Khoa. Kính chúc các anh chị cùng gia đình sức khỏe, hạnh phúc và thành công. Chúc mạng lưới cựu sinh viên Khoa Địa chất ngày càng phát triển, gắn kết và luôn là mái nhà chung của các thế hệ. Trân trọng, PGS.TS. Nguyễn Tài Tuệ Trưởng Khoa Địa chất Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tuyển sinh năm 2026

HỌC ĐỊA CHẤT CÓ THỂ TRỞ THÀNH GIÁO VIÊN THPT
HỌC ĐỊA CHẤT CÓ THỂ TRỞ THÀNH GIÁO VIÊN THPT HỌC ĐỊA CHẤT CÓ THỂ TRỞ THÀNH GIÁO VIÊN THPT? Một tin vui dành cho sinh viên ngành Địa chất học và những bạn yêu thích nghề giáo! Từ khóa K67 trở về sau, sinh viên năm cuối các ngành Toán, Tin học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa lý và Địa chất có học lực từ Khá trở lên có thể đăng ký tham gia chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm để trở thành giáo viên giảng dạy các môn tương ứng ở bậc THPT, bổ sung vào nguồn nhân lực đang ngày càng thiếu hụt của Quốc gia. Đối với sinh viên ngành Địa chất học, sau khi hoàn thành chương trình này, các bạn sẽ có thêm cơ hội trở thành giáo viên môn Địa lý tại các trường THPT, mở ra một hướng phát triển nghề nghiệp đầy ý nghĩa bên cạnh các lĩnh vực truyền thống như địa chất, tài nguyên, môi trường, địa kỹ thuật hay khoáng sản. Với khóa đầu tiên dành cho sinh viên K67: • Thời gian học nghiệp vụ: tháng 8 – 11/2026 • Hình thức: kết hợp trực tuyến và trực tiếp tại Trường Đại học Giáo dục – ĐH Quốc gia Hà Nội • Thực tập sư phạm: từ tháng 1 – 5/2027 tại các trường THPT • Học phí toàn khóa: khoảng 6 triệu đồng • Đơn vị cấp chứng chỉ: Trường Đại học Giáo dục – ĐH Quốc gia Hà Nội Đặc biệt, xin chúc mừng Trần Thị Thanh Thảo (K67 Địa chất học) đã trở thành sinh viên đầu tiên của Khoa Địa chất vượt qua vòng sơ tuyển và bắt đầu hoàn thiện hồ sơ tham gia khóa bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Đây là một cột mốc đáng nhớ, mở ra thêm một hướng đi mới cho sinh viên Khoa Địa chất trên con đường trở thành những người truyền cảm hứng về khoa học Trái đất tới các thế hệ học sinh. Trong đợt đăng ký đầu tiên, 132 sinh viên K67 của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã đăng ký tham gia chương trình. Chúc Thanh Thảo sẽ hoàn thành xuất sắc khóa học, sớm hiện thực hóa ước mơ trở thành giáo viên, đồng thời truyền niềm đam mê khám phá Trái đất và tình yêu khoa học đến với nhiều thế hệ học sinh trong tương lai. Chúc các bạn sinh viên Khoa Địa chất sẽ tiếp tục mạnh dạn nắm bắt những cơ hội mới để từ nền tảng kiến thức về Trái đất có thể phát triển trên nhiều con đường nghề nghiệp khác nhau. H.N
TỪ ĐẤT HIẾM ĐẾN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: VÌ SAO XÃ HỘI VẪN CẦN NHỮNG NHÀ ĐỊA CHẤT?
TỪ ĐẤT HIẾM ĐẾN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: VÌ SAO XÃ HỘI VẪN CẦN NHỮNG NHÀ ĐỊA CHẤT? GÓC NHÌN CỦA GIẢNG VIÊN: TỪ ĐẤT HIẾM ĐẾN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: VÌ SAO XÃ HỘI VẪN CẦN NHỮNG NHÀ ĐỊA CHẤT? Mỗi mùa tuyển sinh, với vai trò là giảng viên và cán bộ quản lý tại Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, tôi thường nhận được rất nhiều câu hỏi từ phụ huynh và học sinh về việc nên chọn ngành nào, trường nào. Sau nhiều năm làm công tác đào tạo và tiếp xúc với hàng trăm sinh viên, tôi nhận ra rằng việc lựa chọn ngành học thường rơi vào ba trường hợp. Trường hợp thứ nhất có lẽ là lý tưởng nhất. Đó là khi một học sinh có năng lực học tập rất tốt, sở thích rõ ràng và ngành nghề yêu thích cũng hoàn toàn phù hợp với năng lực của mình. Chẳng hạn, một học sinh thực sự yêu thích ngành Y, học tốt các môn khoa học tự nhiên và luôn đạt kết quả rất cao. Với những trường hợp như vậy, việc lựa chọn thường khá dễ dàng. Các em gần như không cần ai tư vấn, bởi bản thân đã biết mình muốn gì và có đủ năng lực để theo đuổi mục tiêu đó. Tuy nhiên, trên thực tế, không nhiều học sinh có được sự thuận lợi này. Trường hợp thứ hai là khi các em có một ngành học rất yêu thích nhưng năng lực hiện tại chưa thực sự phù hợp. Khi đó, các em phải đứng trước một lựa chọn không hề dễ dàng: tiếp tục theo đuổi ước mơ với nhiều nỗ lực và cả rủi ro, hay lựa chọn một ngành khác phù hợp hơn với khả năng của mình. Những quyết định như vậy luôn cần được cân nhắc kỹ lưỡng, bởi sự cố gắng là rất quan trọng, nhưng sự phù hợp cũng quan trọng không kém.   Nguyễn Thị Huyền Trang, K67 Khoa Địa chất   Các em thuộc nhóm này thường đặt rất nhiều nguyện vọng. Một vài nguyện vọng đầu là những ngành thực sự yêu thích, nhưng càng về sau, việc lựa chọn đôi khi trở nên khá cảm tính. Không ít em đăng ký thêm nhiều ngành chỉ để “chắc suất đỗ”, trong khi chưa thực sự hiểu ngành đó học gì, làm gì, có phù hợp với mình hay không. Tôi còn nhớ những năm trước, khi thí sinh được đăng ký số lượng nguyện vọng gần như không giới hạn, đã có những sinh viên trúng tuyển vào ngành Địa chất học của Khoa Địa chất, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN với thứ tự nguyện vọng trên 30. Điều đó có nghĩa là các em gần như chưa từng nghĩ mình sẽ học địa chất cho đến khi kết quả tuyển sinh được công bố. Trong thực tế, những trường hợp như vậy thường gặp nhiều khó khăn hơn trong giai đoạn đầu đại học. Khi chưa hiểu rõ ngành học và cũng chưa thực sự yêu thích lĩnh vực mình theo đuổi, việc duy trì động lực học tập không phải điều dễ dàng. Có em quyết định không nhập học, có em nhập học rồi xin thôi học để thi lại vào ngành khác. Cũng có những em kiên trì ở lại và dần tìm thấy niềm yêu thích với ngành nghề mình đang học. Tuy nhiên, kinh nghiệm của tôi cho thấy việc lựa chọn một ngành học không phù hợp ngay từ đầu thường khiến các em phải trả giá bằng thời gian, công sức để học đuổi vào hai năm cuối và đôi khi cả những cơ hội quý giá trong những năm tuổi trẻ.     Nguyễn Trà Mi, K65 Khoa Địa chất, gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam   Trường hợp thứ ba, và theo tôi cũng là trường hợp khó nhất, là tìm được điểm giao nhau giữa ba yếu tố: sở thích cá nhân, năng lực bản thân và nhu cầu của xã hội. Một ngành học có thể rất hấp dẫn nhưng nhu cầu nhân lực không lớn. Một ngành khác có nhu cầu rất cao nhưng bản thân người học lại không thực sự hứng thú. Cũng có những ngành phù hợp với năng lực, xã hội đang rất cần, nhưng vì ít người biết đến nên thường bị bỏ qua trong quá trình lựa chọn. Tôi cho rằng những người tìm được điểm giao nhau của ba yếu tố đó thường có nhiều cơ hội hơn trong tương lai. Họ học đúng ngành mình có khả năng theo đuổi, làm công việc mà mình yêu thích, đồng thời đóng góp vào những lĩnh vực mà xã hội thực sự cần. Khi đó, việc học tập, làm việc và phát triển nghề nghiệp thường trở nên tự nhiên và bền vững hơn rất nhiều. Có lẽ vì thế mà tôi luôn nghĩ rằng câu hỏi quan trọng nhất khi chọn ngành không phải là “ngành nào đang hot?” hay “ngành nào có mức lương cao nhất hiện nay?”, mà là “ngành nào vẫn còn giá trị sau 20 hoặc 30 năm nữa?”. Thoạt nghe, đây có vẻ là một câu hỏi rất khó trả lời. Không ai biết chính xác 20 hay 30 năm nữa thế giới sẽ thay đổi như thế nào. Nhưng có một điều gần như chắc chắn: rất nhiều công việc mà chúng ta đang quen thuộc ngày hôm nay sẽ thay đổi sâu sắc, thậm chí biến mất. Chúng ta đang sống trong thời đại mà trí tuệ nhân tạo phát triển với tốc độ chưa từng có. AI đã có thể viết báo cáo, dịch thuật, lập trình, thiết kế, phân tích dữ liệu và hỗ trợ thực hiện rất nhiều công việc vốn trước đây chỉ con người mới làm được. Chắc chắn AI sẽ không thay thế hoàn toàn con người, nhưng AI sẽ thay thế những công việc có thể được chuẩn hóa, lặp lại và dễ dàng sao chép. Điều đó có nghĩa là trong tương lai, nếu một người chỉ làm được những gì mà AI cũng có thể làm, thậm chí làm nhanh hơn và rẻ hơn, thì lợi thế cạnh tranh của người đó sẽ ngày càng giảm. Giá trị của con người sẽ không còn nằm ở việc ghi nhớ nhiều thông tin hơn máy tính hay xử lý dữ liệu nhanh hơn thuật toán. Giá trị của con người sẽ nằm ở khả năng đặt ra những câu hỏi mới, phát hiện những vấn đề mới và tạo ra những ý tưởng mới. Nói cách khác, khi công nghệ ngày càng thông minh hơn, thứ tạo nên khác biệt giữa người với người sẽ không còn là khả năng lặp lại những gì đã biết, mà là khả năng sáng tạo ra những điều chưa từng có. Và điều thú vị là câu chuyện của mỗi cá nhân cũng phản ánh phần nào câu chuyện phát triển của một quốc gia.   Khảo sát thực địa tại Biển Hồ (2024)   Những người thuộc thế hệ 7X, 8X hay đầu 9X chắc vẫn còn nhớ một thời mà mong muốn lớn nhất của nhiều gia đình đơn giản chỉ là “ăn no mặc ấm“. Khi điều kiện kinh tế khá hơn, người ta nói đến “ăn chắc mặc bền“. Sau đó là “ăn ngon mặc đẹp“. Và ngày nay, trong một bộ phận không nhỏ của xã hội, người ta đã bắt đầu quan tâm đến chuyện “ăn kiêng mặc mốt“, đến sức khỏe, chất lượng sống, giáo dục, môi trường và những giá trị phát triển bền vững. Sự thay đổi đó phản ánh một thực tế rất rõ ràng: Việt Nam đã khác rất nhiều so với cách đây hai hoặc ba thập kỷ. Thu nhập bình quân đầu người tăng lên, đời sống vật chất được cải thiện và những nhu cầu của xã hội cũng thay đổi theo. Khi một quốc gia còn đang tập trung giải quyết các nhu cầu cơ bản, ưu tiên hàng đầu thường là sản xuất nhiều hơn, xây dựng nhiều hơn và tạo ra nhiều việc làm hơn. Nhưng khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, câu hỏi đặt ra không còn là làm thế nào để sản xuất nhiều hơn, mà là làm thế nào để tạo ra những giá trị mà người khác chưa có. Đó cũng là lý do vì sao nhiều quốc gia dù đã đạt mức thu nhập trung bình nhưng không thể bứt phá để trở thành những nền kinh tế hàng đầu. Họ có thể có nhà máy, có hạ tầng, có nguồn nhân lực dồi dào, nhưng lại thiếu khả năng tạo ra tri thức mới, công nghệ mới và những sản phẩm mà thế giới chưa có. Các nhà kinh tế gọi đó là “bẫy thu nhập trung bình”. Thực tế phát triển của nhiều quốc gia cho thấy chìa khóa để thoát khỏi cái bẫy đó không nằm ở việc làm nhiều hơn, mà nằm ở việc sáng tạo nhiều hơn. Có lẽ vì thế mà trong những năm gần đây, chúng ta ngày càng nghe nhiều hơn những khái niệm như công nghệ lõi, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ đại dương, công nghệ lòng đất, đất hiếm, chuyển đổi số, an ninh tài nguyên hay đổi mới sáng tạo. Cùng với đó là các chương trình đầu tư cho khoa học công nghệ, các học bổng dành cho khoa học cơ bản và các chương trình đào tạo nhân lực cho những lĩnh vực công nghệ chiến lược của quốc gia. Theo tôi, đây không phải là những xu hướng nhất thời. Đó là dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang từng bước chuyển từ mô hình phát triển dựa chủ yếu vào lao động và tài nguyên sang mô hình phát triển dựa trên tri thức và sáng tạo. Và khi nói đến tri thức và sáng tạo, chúng ta không thể bỏ qua vai trò của khoa học cơ bản.   Giảng viên Khoa Địa chất khảo sát hang động tại Tam Chúc năm 2025     ĐỊA CHẤT HỌC VÀ NGHỊCH LÝ NHÂN LỰC TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ Có lẽ đến đây nhiều người sẽ đặt một câu hỏi hoàn toàn hợp lý: tất cả những điều đó liên quan gì đến Địa chất học? Đó cũng là câu hỏi mà chúng tôi thường xuyên nhận được từ phụ huynh và học sinh khi tìm hiểu về ngành Địa chất học tại Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN. Tôi cho rằng một phần nguyên nhân đến từ cách xã hội nhìn nhận về nghề địa chất trong nhiều năm qua. Trong suy nghĩ của không ít người, địa chất là một ngành cổ điển của thế kỷ trước. Khi nhắc đến địa chất, người ta thường liên tưởng đến những chuyến đi thực địa dài ngày ở vùng núi xa xôi, những công việc khoan khảo sát, địa chất công trình, khai thác than hay khai thác mỏ. Đó thường được xem là những công việc vất vả, nhiều rủi ro, điều kiện làm việc khó khăn, thu nhập không cao và chủ yếu gắn với khu vực nhà nước. Không ít phụ huynh vì thế cảm thấy e ngại khi con em mình lựa chọn theo học ngành này. Thực tế, những nhận thức đó không hoàn toàn sai nếu nhìn từ bối cảnh cách đây vài chục năm. Tuy nhiên, xã hội đã thay đổi rất nhiều, trong khi nhận thức về ngành địa chất đôi khi lại thay đổi chậm hơn thực tế. Điều đáng chú ý là trong khi nhiều người cho rằng ngành địa chất đang dần thu hẹp vai trò thì những người làm nghề lại chứng kiến một câu chuyện hoàn toàn khác.   Giảng viên Khoa Địa chất khảo sát hồ Ea Sno năm 2024   Tại Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, giai đoạn từ khoảng năm 2018 đến năm 2024 có thể xem là giai đoạn khó khăn nhất của ngành Địa chất học. Trong nhiều năm liên tiếp, số lượng sinh viên nhập học mỗi khóa thường dưới 10 sinh viên. Đó gần như là giai đoạn chạm đáy của tuyển sinh ngành địa chất. Hệ quả là số lượng sinh viên tốt nghiệp hàng năm giảm mạnh, kéo theo sự thiếu hụt nguồn nhân lực trẻ cho nhiều cơ quan và doanh nghiệp. Điều thú vị là nhu cầu nhân lực của xã hội không hề giảm theo. Trong nhiều năm qua, tôi thường xuyên nhận được điện thoại hoặc email từ bạn bè, đồng nghiệp, doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu nhờ giới thiệu sinh viên mới tốt nghiệp. Nhu cầu tuyển dụng trải rộng từ địa chất công trình, khai thác khoáng sản, địa chất môi trường, kiểm định đá quý, các viện nghiên cứu cho đến các cơ hội học thạc sĩ và tiến sĩ ở nước ngoài. Thế nhưng rất nhiều lần tôi phải trả lời rằng không có người để giới thiệu. Có thời điểm, số lượng việc làm nhiều hơn số lượng sinh viên tốt nghiệp. Đó là một nghịch lý khá thú vị. Trong khi nhiều người lo ngại sinh viên địa chất ra trường khó tìm việc thì những người trực tiếp sử dụng lao động lại lo không tìm được người để tuyển dụng. Điều này cho thấy khoảng cách khá lớn giữa nhận thức của xã hội và nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Ngành địa chất suy giảm không phải vì xã hội không cần địa chất, mà vì xã hội chưa nhận ra mình đang cần địa chất đến mức nào. Rất may là cuộc khủng hoảng nhân lực đó đang có dấu hiệu chấm dứt. Trong khoảng hai năm trở lại đây, số lượng sinh viên theo học ngành Địa chất học đã tăng trở lại, tiệm cận khoảng 30 sinh viên mỗi khóa và tiếp tục có xu hướng tăng. Tôi cho rằng sự thay đổi này phản ánh một thực tế rằng ngày càng nhiều học sinh và phụ huynh bắt đầu nhìn nhận lại vai trò của khoa học Trái đất trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Tuy nhiên, điều đáng chú ý hơn cả không phải là số lượng sinh viên tăng hay giảm. Điều đáng chú ý là nhu cầu xã hội đối với các nhà địa chất đang thay đổi rất nhanh. Nếu như trước đây người ta chủ yếu nghĩ đến khai thác than, quặng hay khảo sát công trình, thì ngày nay các nhà địa chất còn tham gia giải quyết những vấn đề hoàn toàn mới: tìm kiếm và đánh giá các nguồn khoáng sản chiến lược, nghiên cứu đất hiếm phục vụ công nghiệp công nghệ cao, điều tra tài nguyên nước, đánh giá tai biến địa chất, nghiên cứu biến đổi khí hậu, kiểm định đá quý, bảo tồn di sản địa chất và xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên phục vụ chuyển đổi số. Nói cách khác, địa chất học ngày nay không đơn thuần là khoa học nghiên cứu về đá hay khoáng sản. Đó là khoa học nghiên cứu về Trái đất và các nguồn tài nguyên của Trái đất nhằm phục vụ phát triển bền vững. Và nếu nhìn vào những từ khóa được nhắc đến nhiều nhất hiện nay như đất hiếm, công nghệ lòng đất, chuyển đổi xanh, an ninh tài nguyên, trí tuệ nhân tạo hay đổi mới sáng tạo, chúng ta sẽ thấy phía sau mỗi lĩnh vực đó đều có dấu ấn của khoa học Trái đất. Có lẽ vì vậy, câu hỏi thực sự không phải là địa chất học có còn cần thiết hay không. Câu hỏi là: trong một thế giới đang nói về AI, đất hiếm, bán dẫn, chuyển đổi xanh và an ninh tài nguyên, xã hội đang cần những nhà địa chất làm gì?   Mai Anh, K70 Địa chất (2025)   ĐẤT HIẾM, CÔNG NGHỆ LÕI VÀ SỰ TRỞ LẠI CỦA ĐỊA CHẤT HỌC Có lẽ không có ví dụ nào minh họa rõ hơn cho sự thay đổi vị thế của địa chất học trong thế kỷ XXI bằng câu chuyện đất hiếm. Khoảng hai mươi năm trước, rất ít người ngoài ngành địa chất quan tâm đến đất hiếm. Ngay cả trong các cuộc trò chuyện về tài nguyên khoáng sản, đất hiếm cũng chỉ được xem là một nhóm nguyên tố khá đặc biệt, có giá trị khoa học nhiều hơn giá trị kinh tế. Nhưng ngày nay, đất hiếm đã trở thành một trong những từ khóa xuất hiện thường xuyên trên các diễn đàn kinh tế, công nghệ, năng lượng và địa chính trị toàn cầu. Lý do rất đơn giản. Thế giới đang bước vào cuộc chuyển đổi công nghệ lớn nhất kể từ cuộc cách mạng công nghiệp. Xe điện, năng lượng tái tạo, robot, trí tuệ nhân tạo, vệ tinh, điện thoại thông minh, máy bay không người lái và nhiều công nghệ quốc phòng hiện đại đều phụ thuộc vào một nhóm nguyên tố mà phần lớn chúng ta chưa từng nghe tên khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Nhiều người sẽ ngạc nhiên khi biết rằng ngay cả chiếc điện thoại trong túi mình cũng là một sản phẩm có liên quan đến địa chất học. Bộ rung nhỏ bé bên trong điện thoại có thể tạo ra những rung động rất mạnh nhờ các nam châm vĩnh cửu hiệu suất cao chứa neodymium và praseodymium – hai nguyên tố thuộc nhóm đất hiếm. Loa điện thoại, tai nghe không dây, ổ cứng máy tính và nhiều linh kiện điện tử khác cũng sử dụng các loại nam châm tương tự. Màn hình điện thoại ngày càng cho màu sắc rực rỡ và trung thực hơn nhờ các nguyên tố đất hiếm như europium, terbium và yttrium được sử dụng trong các vật liệu phát quang. Chúng ta sử dụng những công nghệ đó mỗi ngày nhưng rất ít khi nghĩ đến nguồn gốc của chúng bắt đầu từ đâu. Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, vai trò của đất hiếm còn rõ ràng hơn. Một tua-bin điện gió ngoài khơi công suất lớn có thể cần hàng trăm kilogram đến hàng tấn nam châm đất hiếm để tạo ra hệ thống phát điện hiệu suất cao. Xe điện hiện đại cũng phụ thuộc rất nhiều vào các loại nam châm này trong động cơ điện để tăng hiệu suất, giảm tiêu thụ điện. Nói cách khác, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp mà thế giới đang theo đuổi không thể tách rời khỏi nguồn cung đất hiếm.   Giảng viên Khoa Địa chất khảo sát Biển Hồ (2024)   Đất hiếm còn hiện diện ở những nơi mà người sử dụng hầu như không nhận ra. Chúng được sử dụng trong các bộ xúc tác của ngành công nghiệp hóa dầu, trong xử lý khí thải, trong pin, vật liệu laser, cảm biến, thiết bị y tế và nhiều lĩnh vực công nghệ cao khác. Một số nhà khoa học gọi đất hiếm là “vitamin của công nghiệp hiện đại”. Hàm lượng sử dụng thường không lớn, nhưng thiếu chúng thì rất nhiều công nghệ sẽ không thể hoạt động. Chính vì vai trò đó mà đất hiếm đã trở thành một vấn đề địa chính trị toàn cầu. Trong nhiều năm, phần lớn nguồn cung đất hiếm của thế giới tập trung ở Trung Quốc. Điều này khiến các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu đặc biệt quan tâm đến việc đa dạng hóa nguồn cung. Mỗi khi xuất hiện căng thẳng thương mại hoặc cạnh tranh công nghệ giữa các cường quốc, câu chuyện đất hiếm lại xuất hiện trên các mặt báo. Cuộc cạnh tranh về đất hiếm thực chất không chỉ là cạnh tranh về khoáng sản, mà là cạnh tranh về công nghệ, sản xuất và vị thế quốc gia trong tương lai. Điều thú vị là đất hiếm thật ra không hiếm, và không phải là một loại khoáng sản duy nhất. Đó là một nhóm gồm 17 nguyên tố hóa học có tính chất khá giống nhau. Chúng có thể tập trung trong nhiều kiểu mỏ khác nhau như carbonatit, đá magma kiềm, sa khoáng hoặc các lớp phong hóa giàu đất hiếm. Mỗi kiểu mỏ lại có đặc điểm địa chất, công nghệ khai thác và hiệu quả kinh tế hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, việc phát hiện một khu vực có đất hiếm mới chỉ là bước khởi đầu. Để biến tài nguyên thành sản phẩm có giá trị cần rất nhiều công việc tiếp theo từ điều tra địa chất, thăm dò, đánh giá trữ lượng, tuyển khoáng, chế biến cho đến kiểm soát tác động môi trường.   Sinh viên Khoa Địa chất thực tập thực tế tại Hòa Bình (2025)   Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng đất hiếm đáng kể trên thế giới. Các mỏ và điểm quặng đất hiếm quan trọng phân bố chủ yếu ở vùng Tây Bắc như Lai Châu, Lào Cai và Yên Bái, trong đó nổi tiếng nhất là khu vực Đông Pao. Tuy nhiên, giữa tiềm năng tài nguyên và khả năng khai thác hiệu quả vẫn còn một khoảng cách rất lớn. Không phải cứ có đất hiếm là có thể trở thành cường quốc đất hiếm. Điều khó nhất không phải là biết đất hiếm tồn tại ở đâu, mà là hiểu chúng được hình thành như thế nào, phân bố ra sao, làm thế nào để khai thác hiệu quả, đồng thời hạn chế tối đa tác động môi trường. Đây chính là nơi mà vai trò của các nhà địa chất trở nên đặc biệt quan trọng. Muốn tìm kiếm thêm các mỏ mới, cần các nhà địa chất. Muốn hiểu quy luật phân bố của quặng, cần các nhà địa chất. Muốn đánh giá trữ lượng, thiết kế chương trình thăm dò, lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp, vẫn cần các nhà địa chất. Và muốn khai thác tài nguyên một cách hiệu quả nhưng vẫn bảo vệ môi trường, vai trò của khoa học Trái đất càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đất hiếm chỉ là một ví dụ. Nhưng đó là một ví dụ rất rõ cho thấy những nghiên cứu tưởng như xa rời thực tiễn trong địa chất học ngày hôm nay hoàn toàn có thể trở thành nền tảng cho các công nghệ chiến lược của ngày mai. Có lẽ vì vậy, khi nói về địa chất học trong thế kỷ XXI, tôi không nghĩ đến những mẫu đá hay những mẫu khoáng vật nằm trong tủ kính. Tôi nghĩ đến những câu hỏi lớn hơn: làm thế nào để bảo đảm an ninh tài nguyên cho một đất nước đang phát triển, làm thế nào để xây dựng các công nghệ lõi của tương lai, và làm thế nào để Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thay vì chỉ xuất khẩu tài nguyên thô.   Cán bộ Khoa Địa chất khảo sát hồ Đắk Nuê (2024)   Học Địa chất học tại Khoa Địa chất, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN là học gì? Một trong những câu hỏi mà tôi thường nhận được từ phụ huynh và học sinh là: học Địa chất học thì học những gì? Tôi nghĩ rằng nhiều người vẫn hình dung sinh viên địa chất chủ yếu học về đá, khoáng sản hoặc đi thực địa ngoài trời. Thực tế, đó chỉ là một phần của chương trình đào tạo. Địa chất học hiện đại là ngành khoa học nghiên cứu về Trái đất, trọng tâm là phía dưới bề mặt, từ lịch sử hình thành hành tinh, các quá trình địa chất, sự tiến hóa của môi trường tự nhiên, cho đến tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, địa chất công trình, tai biến thiên nhiên và các vấn đề môi trường. Trong hai năm đầu, sinh viên được trang bị nền tảng khoa học tự nhiên khá rộng với toán học, vật lý, hóa học, tin học, khoa học dữ liệu, GIS và viễn thám. Đây là những công cụ ngày càng quan trọng trong thời đại chuyển đổi số. Một nhà địa chất hiện đại không chỉ làm việc với búa địa chất và bản đồ giấy như nhiều người vẫn hình dung, mà còn làm việc với cơ sở dữ liệu lớn, ảnh vệ tinh, mô hình không gian ba chiều, trí tuệ nhân tạo và các hệ thống quan trắc hiện đại. Trên nền tảng đó, sinh viên được tiếp cận các học phần cốt lõi của khoa học Trái đất như Khoáng vật học, Thạch học, Cổ sinh học, Địa tầng học, Địa chất cấu tạo, Địa hóa học, Khoáng sản học, Địa chất môi trường, Địa chất Việt Nam và nhiều học phần thực địa. Đây là giai đoạn giúp sinh viên hình thành tư duy địa chất – tức là khả năng nhìn một hiện tượng tự nhiên và hiểu được những quá trình đã tạo nên nó trong hàng nghìn, hàng triệu hoặc thậm chí hàng trăm triệu năm. Từ năm thứ ba, sinh viên sẽ lựa chọn một trong ba chuyên ngành đào tạo chính tùy theo sở thích và định hướng nghề nghiệp của mình.   Cán bộ Khoa Địa chất khảo sát hang động tại Tam Chúc (2025)   Những bạn yêu thích nghiên cứu địa chất truyền thống, tài nguyên khoáng sản, đất hiếm, địa hóa, địa chất cấu tạo hay muốn theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học thường lựa chọn chuyên ngành Địa chất học. Đây là chuyên ngành gần với hình ảnh “nhà địa chất” mà nhiều người vẫn hình dung nhất, nhưng đồng thời cũng là nền tảng của rất nhiều lĩnh vực mới liên quan đến khoáng sản chiến lược, năng lượng và tài nguyên. Những bạn quan tâm đến đá quý, trang sức, kim cương, ruby, sapphire, ngọc jade hay các phương pháp kiểm định đá quý thường lựa chọn chuyên ngành Ngọc học – Đá quý. Đây là một lĩnh vực khá đặc biệt của Khoa Địa chất. Sinh viên được học từ nền tảng khoáng vật học đến các phương pháp giám định, phân biệt đá tự nhiên, đá xử lý và đá tổng hợp. Trong bối cảnh thị trường đá quý và trang sức ngày càng phát triển, nhu cầu về những chuyên gia kiểm định có kiến thức khoa học và đạo đức nghề nghiệp ngày càng rõ rệt. Những bạn thích ứng dụng địa chất vào xây dựng, hạ tầng, môi trường và phòng chống thiên tai thường lựa chọn chuyên ngành Công nghệ Địa kỹ thuật – Địa chất Môi trường. Đây là lĩnh vực gắn rất chặt với thực tiễn phát triển của đất nước. Các em được học về địa chất công trình, nền móng, tai biến địa chất, sạt lở, lún sụt, địa chất môi trường và các giải pháp kỹ thuật phục vụ quy hoạch, xây dựng và phát triển bền vững. Mô hình đào tạo của Khoa Địa chất là sinh viên không chỉ học lý thuyết trên lớp, các em được đi thực địa, làm việc với mẫu vật thật, sử dụng thiết bị phân tích, xử lý số liệu và tham gia nghiên cứu khoa học từ khá sớm. Nhiều người thường nghĩ nghiên cứu khoa học chỉ dành cho học viên cao học hoặc nghiên cứu sinh. Trên thực tế, tại Khoa Địa chất, không ít sinh viên đã tham gia các đề tài nghiên cứu ngay từ năm thứ nhất hoặc năm thứ hai. Các em được làm việc cùng giảng viên trong các nhóm nghiên cứu, tham gia hội nghị khoa học sinh viên, viết báo cáo khoa học và thậm chí có những công bố quốc tế đầu tiên ngay khi còn là sinh viên đại học. Theo tôi, đây là một lợi thế rất lớn của môi trường đào tạo định hướng nghiên cứu. Không phải tất cả sinh viên sau này đều trở thành nhà khoa học, nhưng quá trình nghiên cứu giúp các em rèn luyện khả năng đặt câu hỏi, thu thập dữ liệu, phân tích thông tin, giải quyết vấn đề và tự học. Trong thời đại AI, những năng lực đó có giá trị lâu dài hơn rất nhiều so với việc chỉ ghi nhớ kiến thức có sẵn. Một điểm mà phụ huynh thường quan tâm là điều kiện học tập. Hiện nay sinh viên ngành Địa chất học học tập chủ yếu tại cơ sở 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội. Sinh viên không phải học chính khóa tại Hòa Lạc. Học phí hiện nay thuộc nhóm thấp trong hệ thống giáo dục đại học, trung bình dưới 2 triệu đồng mỗi tháng. Chương trình đào tạo được thiết kế trong khoảng 4 năm, nhưng những sinh viên có kế hoạch học tập tốt hoàn toàn có thể hoàn thành chương trình trong khoảng 3,5 đến 4 năm. Bên cạnh chương trình chuẩn, Khoa Địa chất còn có chương trình chất lượng cao dành cho những sinh viên mong muốn được đào tạo chuyên sâu hơn, tăng cường ngoại ngữ, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế. Đây là một lựa chọn phù hợp với những sinh viên có định hướng học tiếp sau đại học hoặc làm việc trong môi trường quốc tế. Có lẽ điều quan trọng nhất không nằm ở việc học bao nhiêu môn hay học trong bao nhiêu năm. Điều quan trọng là sinh viên được trang bị những năng lực gì để bước vào một thế giới đang thay đổi rất nhanh. Và đó cũng là lý do vì sao tôi luôn cho rằng môi trường đại học nghiên cứu có giá trị đặc biệt. Nó không chỉ dạy sinh viên những gì đã biết, mà còn giúp các em học cách khám phá những điều chưa ai biết.   Cán bộ Khoa Địa chất khảo sát Hồ Tây (2024)   TỪ GIẢNG ĐƯỜNG ĐẾN THẾ GIỚI: cơ hội nghề nghiệp và những con đường phát triển của sinh viên Địa chất học Nếu hỏi phụ huynh quan tâm điều gì nhất khi tìm hiểu một ngành học, tôi nghĩ câu trả lời thường không phải là chương trình đào tạo hay số tín chỉ. Điều mà nhiều người muốn biết nhất là: học xong thì làm gì, cơ hội nghề nghiệp ra sao và liệu ngành học đó có mang lại một tương lai ổn định cho con em mình hay không. Đó là một câu hỏi hoàn toàn chính đáng. Trong nhiều năm qua, tôi nhận thấy một điều khá thú vị. Khi trò chuyện với học sinh phổ thông, câu hỏi thường là ngành học này có gì hay, có phù hợp với em không. Trong khi đó, khi trao đổi với phụ huynh, câu hỏi đầu tiên thường là ra trường có xin được việc không. Thực tế cho thấy, cơ hội nghề nghiệp của sinh viên Địa chất học hiện nay rộng hơn rất nhiều so với suy nghĩ của đa số mọi người. Con đường quen thuộc nhất là làm việc trong các lĩnh vực điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò và khai thác khoáng sản. Đây là lĩnh vực đã gắn với địa chất học trong suốt nhiều thập kỷ và vẫn giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Khi Việt Nam ngày càng quan tâm đến các khoáng sản chiến lược như đất hiếm, lithium, niken, đồng hay các khoáng sản phục vụ chuyển đổi năng lượng, nhu cầu về đội ngũ chuyên gia địa chất có trình độ càng trở nên cấp thiết. Một hướng đi khác là Địa chất công trình và Địa kỹ thuật. Mỗi tuyến đường cao tốc, mỗi cây cầu, mỗi khu đô thị, sân bay, cảng biển hay công trình ngầm đều cần có sự tham gia của các kỹ sư địa chất và địa kỹ thuật. Trước khi một công trình được xây dựng, người ta phải hiểu nền đất bên dưới có đặc điểm gì, có nguy cơ sụt lún hay không, có đứt gãy địa chất nào ảnh hưởng đến an toàn công trình hay không. Đây là lĩnh vực có nhu cầu nhân lực khá ổn định và gắn trực tiếp với quá trình phát triển hạ tầng của đất nước. Đối với những sinh viên theo chuyên ngành Công nghệ Địa kỹ thuật – Địa chất Môi trường, cơ hội nghề nghiệp còn mở rộng sang các lĩnh vực đánh giá tác động môi trường, quản lý tài nguyên nước, điều tra tai biến địa chất, giám sát sạt lở, lũ quét, lún sụt đất và ứng phó với biến đổi khí hậu. Khi các vấn đề môi trường và thiên tai ngày càng được quan tâm, nhu cầu về nguồn nhân lực trong lĩnh vực này được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong nhiều năm tới.   Diệu Linh (K69) – Khoa Địa chất   Một lĩnh vực khá đặc biệt của Khoa Địa chất là Ngọc học – Đá quý. Nhiều người bất ngờ khi biết rằng việc xác định một viên ruby là tự nhiên hay nhân tạo, một viên sapphire có được xử lý hay không, hay giá trị thực của một viên kim cương phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức khoa học. Những sinh viên theo chuyên ngành này có thể làm việc trong các trung tâm kiểm định đá quý, doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc đá quý, các cơ quan quản lý chất lượng hoặc tự phát triển hoạt động tư vấn, giám định độc lập. Bên cạnh khu vực doanh nghiệp, sinh viên Địa chất học còn có thể làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu, trường đại học hoặc các tổ chức quốc tế liên quan đến tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững. Đây là con đường phù hợp với những bạn yêu thích nghiên cứu, giảng dạy hoặc muốn tham gia xây dựng chính sách trong các lĩnh vực liên quan đến khoa học Trái đất. Điều mà tôi thường chia sẻ với sinh viên là: nghề nghiệp của một nhà địa chất ngày nay không còn bị giới hạn trong những gì chúng ta nhìn thấy cách đây vài chục năm. Công nghệ số, viễn thám, GIS, trí tuệ nhân tạo, mô hình hóa dữ liệu và các công nghệ phân tích hiện đại đang làm thay đổi rất nhanh cách thức làm việc của ngành địa chất. Những người hiểu đồng thời cả khoa học Trái đất và công nghệ hiện đại sẽ có rất nhiều cơ hội trong tương lai. Một lợi thế khác của sinh viên Địa chất học là cơ hội học tiếp sau đại học ở nước ngoài. Trong nhiều năm qua, sinh viên và cựu sinh viên của Khoa Địa chất đã nhận được học bổng thạc sĩ và tiến sĩ tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Pháp, Úc, Đài Loan, Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác. Đối với những sinh viên có kết quả học tập tốt, tham gia nghiên cứu khoa học từ sớm và có khả năng ngoại ngữ, cơ hội tiếp cận các chương trình học bổng quốc tế là hoàn toàn khả thi.   Sinh viên K70 Địa chất thực tập thực tế tại Hòa Bình (2025)   Trong bối cảnh Việt Nam đang ưu tiên phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và các lĩnh vực công nghệ chiến lược, sinh viên các ngành khoa học cơ bản cũng đang có thêm nhiều cơ hội tiếp cận các chương trình hỗ trợ, học bổng và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những sinh viên muốn theo đuổi con đường nghiên cứu lâu dài. Tôi thường kể cho sinh viên nghe câu chuyện của Nguyễn Trọng Vân, cựu sinh viên K57 của Khoa Địa chất. Vân từng có một khởi đầu không như mong muốn khi không đi theo con đường bác sĩ mà mình từng dự định. Nhưng thay vì xem Địa chất học là một lựa chọn bất đắc dĩ, Vân đã dần tìm thấy niềm yêu thích của mình trong những chuyến thực địa, những giờ học chuyên ngành và những cơ hội nghề nghiệp mà ngành học này mang lại. Sau khi tốt nghiệp, Vân tiếp tục phát triển sự nghiệp trong lĩnh vực địa chất – khoáng sản và từng bước khẳng định năng lực của mình trong môi trường quốc tế. Hiện nay, Vân là Kỹ sư Địa chất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Tập đoàn Imerys (Pháp), một trong những tập đoàn vật liệu khoáng công nghiệp hàng đầu thế giới. Tôi thích câu chuyện này không phải vì chức danh hay vị trí công việc của Vân. Điều khiến tôi ấn tượng hơn là hành trình của một người trẻ đã tìm được con đường phù hợp với mình sau khi cánh cửa đầu tiên không mở ra như mong đợi. Đó cũng là điều tôi thường nhắc với sinh viên: đôi khi thành công không đến từ việc bước vào đúng ngành học mà mình mơ ước khi 18 tuổi, mà đến từ việc tìm được ngành học phù hợp với năng lực của mình và kiên trì theo đuổi nó đủ lâu. Có lẽ đó cũng là điều quan trọng nhất mà một ngành học có thể mang lại. Không phải một công việc cụ thể, không phải một mức lương cụ thể, mà là khả năng mở ra nhiều con đường phát triển khác nhau trong tương lai.   Sinh viên Khoa Địa chất thực tập thực tế tại Ba Vì (2025)   Địa chất học có phải là lựa chọn dành cho bạn? Sau tất cả những điều đã chia sẻ, có lẽ câu hỏi cuối cùng vẫn là: liệu Địa chất học có phải là ngành học phù hợp với bạn? Tôi nghĩ câu trả lời là không. Cũng giống như Y khoa không dành cho tất cả mọi người, Công nghệ thông tin không dành cho tất cả mọi người hay Kinh tế không dành cho tất cả mọi người, Địa chất học cũng vậy. Đây không phải là ngành học mà ai cũng sẽ yêu thích. Sẽ có những bạn cảm thấy hứng thú với kinh doanh, tài chính, luật, y học hay nghệ thuật hơn là những câu chuyện về Trái đất, tài nguyên và môi trường. Điều đó hoàn toàn bình thường. Nhưng tôi cũng tin rằng có những bạn trẻ sẽ tìm thấy ở địa chất học một điều gì đó rất đặc biệt. Đó là những bạn luôn tò mò về thế giới tự nhiên. Những bạn thích đặt câu hỏi về nguồn gốc của một ngọn núi, một dòng sông hay một loại khoáng sản. Những bạn thích khám phá, thích đi đây đi đó, thích làm việc với dữ liệu nhưng cũng thích quan sát thực tế ngoài hiện trường. Những bạn muốn hiểu sâu hơn về tài nguyên, môi trường, biến đổi khí hậu và những vấn đề lớn mà xã hội sẽ phải đối mặt trong nhiều thập kỷ tới. Đó cũng có thể là những bạn không chỉ muốn sử dụng công nghệ, mà còn muốn tham gia tạo ra nền tảng để công nghệ phát triển. Bởi phía sau nhiều công nghệ hiện đại nhất của thế giới ngày nay vẫn là những câu hỏi rất cơ bản về vật chất, năng lượng và tài nguyên của Trái đất. Trong nhiều năm làm công tác đào tạo, tôi nhận ra rằng những sinh viên thành công nhất không phải lúc nào cũng là những người có điểm đầu vào cao nhất. Những người thành công thường là những người tìm được sự phù hợp giữa năng lực, sở thích và nhu cầu của xã hội. Khi ba yếu tố đó gặp nhau, việc học tập và phát triển nghề nghiệp trở nên tự nhiên hơn rất nhiều. Đó cũng chính là điều tôi đã đề cập ở phần đầu bài viết. Nếu chỉ chọn một ngành học vì đang “hot”, rất có thể vài năm sau xu hướng đó sẽ thay đổi. Nếu chỉ chọn một ngành vì mức lương hiện tại cao hơn ngành khác vài triệu đồng mỗi tháng, rất có thể khoảng cách đó sẽ không còn ý nghĩa sau mười hay hai mươi năm nữa. Nhưng nếu lựa chọn được một lĩnh vực mà mình có khả năng theo đuổi lâu dài, đồng thời xã hội thực sự cần đến nó, thì giá trị của lựa chọn đó thường bền vững hơn nhiều.     Tôi thường nói với sinh viên rằng đại học không phải là nơi quyết định các em sẽ trở thành ai trong suốt phần đời còn lại. Đại học chỉ là nơi giúp các em xây dựng nền tảng để có thể tiếp tục học hỏi và thích nghi trong một thế giới luôn thay đổi. Một ngành học tốt không phải là ngành đảm bảo cho bạn một công việc duy nhất trong tương lai. Một ngành học tốt là ngành giúp bạn có đủ năng lực để bước qua nhiều cơ hội khác nhau trong tương lai. Địa chất học, theo tôi, là một ngành như vậy. Từ những chuyến khảo sát ngoài thực địa đến những phòng thí nghiệm hiện đại. Từ những mẫu đá tưởng chừng vô tri đến câu chuyện về đất hiếm, xe điện, năng lượng tái tạo và công nghệ cao. Từ việc nghiên cứu quá khứ của Trái đất đến việc góp phần giải quyết những thách thức của tương lai. Địa chất học ngày nay rộng lớn hơn rất nhiều so với những gì phần lớn chúng ta từng hình dung. Có một điều nữa mà tôi thường chia sẻ với sinh viên của mình. Ở những lĩnh vực đã quá đông người tham gia, việc tạo ra khác biệt đôi khi không dễ dàng. Nhưng trong những lĩnh vực còn nhiều dư địa phát triển, những người trẻ có năng lực và đam mê thực sự lại có cơ hội tiến rất xa. Địa chất học ở Việt Nam hiện nay có phần giống như vậy. Chúng ta đang bước vào giai đoạn mà đất nước cần nhiều hơn các chuyên gia về đất hiếm, khoáng sản chiến lược, địa chất môi trường, địa kỹ thuật, tài nguyên nước, địa chất biển, ngọc học và nhiều lĩnh vực khác của khoa học Trái đất. Trong khi đó, số lượng người được đào tạo bài bản và theo đuổi lâu dài các lĩnh vực này vẫn còn khá hạn chế. Điều đó có nghĩa là nếu bạn thực sự yêu thích địa chất, có tinh thần khám phá, có khả năng học hỏi và sẵn sàng theo đuổi một lĩnh vực đủ lâu, thì cơ hội để trở thành một chuyên gia giỏi, một nhà khoa học có uy tín, một người dẫn dắt chuyên môn trong doanh nghiệp hay thậm chí là người mở ra những hướng nghiên cứu mới trong tương lai là hoàn toàn có thể. Không phải vì địa chất là con đường dễ đi, mà bởi đây vẫn là một lĩnh vực còn rất nhiều khoảng trống để những người trẻ tài năng tạo nên dấu ấn riêng của mình. Có thể địa chất học sẽ không bao giờ là ngành học đông sinh viên nhất. Có thể nó cũng sẽ không phải là ngành được nhắc đến nhiều nhất trên các diễn đàn tuyển sinh. Nhưng nếu Việt Nam muốn phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nếu chúng ta muốn hiểu rõ hơn về tài nguyên của mình, bảo vệ môi trường của mình và xây dựng những công nghệ chiến lược của tương lai, thì tôi tin rằng địa chất học sẽ là một trong những ngành không thể thiếu. Và biết đâu, trong số những học sinh đang đọc bài viết này hôm nay, sẽ có những người trở thành các nhà địa chất, nhà khoa học, chuyên gia đất hiếm, chuyên gia địa kỹ thuật, chuyên gia ngọc học hay những người góp phần giải quyết các bài toán lớn của đất nước trong vài thập kỷ tới. H.N.    
Vai trò của khoa học cơ bản trong phát triển công nghệ lõi
Vai trò của khoa học cơ bản trong phát triển công nghệ lõi PGS.TS. Nguyễn Tài Tuệ – Trưởng Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên chia sẻ về vai trò của khoa học cơ bản trong phát triển công nghệ lõi. Ngày 28/5/2026, Chuyên trang Chính sách và Cuộc sống của Thông tấn xã Việt Nam đăng tải bài viết “Đưa khoa học cơ bản trở thành cơ sở hình thành công nghệ lõi”, trong đó ghi nhận nhiều ý kiến chuyên gia về vai trò chiến lược của nghiên cứu cơ bản đối với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Đáng chú ý, PGS.TS. Nguyễn Tài Tuệ – Trưởng Khoa Địa chất, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm về Địa môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã có những chia sẻ sâu sắc từ góc nhìn của ngành Khoa học Trái đất và Môi trường. Theo PGS.TS. Nguyễn Tài Tuệ, việc khẳng định vai trò của nghiên cứu cơ bản cho thấy bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển khoa học. Nghiên cứu cơ bản không chỉ là nền móng tri thức, mà còn là cơ sở để hình thành công nghệ lõi, nâng cao năng lực dự báo và xây dựng năng lực tự chủ quốc gia. Từ thực tiễn của ngành Khoa học Trái đất và Môi trường, PGS.TS. Nguyễn Tài Tuệ nhấn mạnh một số điểm nghẽn lớn hiện nay, bao gồm nhu cầu về nguồn kinh phí ổn định, dài hạn và đủ lớn cho các nghiên cứu cần tích lũy dữ liệu trong nhiều thập kỷ; cơ chế quản lý khoa học còn nặng thủ tục; và sự liên kết giữa Nhà nước – viện/trường – doanh nghiệp chưa thật sự chặt chẽ. Đây là những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chuyển hóa tri thức khoa học thành sản phẩm, công nghệ và giải pháp phục vụ thực tiễn. Một điểm nhấn quan trọng trong chia sẻ của PGS.TS. Nguyễn Tài Tuệ là quan điểm coi dữ liệu là hạ tầng chiến lược của nghiên cứu cơ bản trong thời đại trí tuệ nhân tạo. Đối với Khoa học Trái đất và Môi trường, hệ thống dữ liệu đồng bộ, liên thông và có khả năng cập nhật theo thời gian thực chính là chìa khóa để nâng cao năng lực dự báo, giám sát môi trường, cảnh báo thiên tai và chuyển từ quản lý thụ động sang quản trị thích ứng. PGS.TS. Nguyễn Tài Tuệ cũng đề xuất nhiều định hướng quan trọng như xây dựng nền tảng dữ liệu quốc gia thời gian thực, ứng dụng AI, IoT và viễn thám trong giám sát môi trường, phát triển “Bản sao số sinh thái” cho các vùng trọng điểm, xây dựng mô hình ngôn ngữ lớn chuyên ngành, triển khai mạng lưới cảm biến môi trường – sinh thái thế hệ mới và hoàn thiện cơ chế sở hữu, chia sẻ, khai thác dữ liệu. Những chia sẻ của PGS.TS. Nguyễn Tài Tuệ cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của Khoa học Trái đất và Môi trường trong chiến lược phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh dữ liệu quốc gia. Đây cũng là minh chứng cho tầm quan trọng của nghiên cứu cơ bản trong việc tạo nền tảng tri thức, dữ liệu và công nghệ phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường và phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nguồn: Chuyên trang Chính sách và Cuộc sống – Thông tấn xã Việt Nam. https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/dua-khoa…/87500.html

Sinh viên & Cựu sinh viên

KHÓA 1 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG ĐANG LÀM GÌ
July
2026
25
KHÓA 1 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG ĐANG LÀM GÌ K1 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG ĐANG LÀM GÌ? TS. Trịnh Phương Ngọc (K53 QLTN&MT) Khóa đầu tiên của ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường Tốt nghiệp đại học ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường: 2012 Hoàn thành chương trình bằng kép ngành Kinh tế phát triển, UEB-VNU: 2014 Thạc sĩ Khoa học Môi trường: 2016 Nhận bằng Tiến sĩ Khoa học Môi trường: 2021 Đề tài luận án: “Nghiên cứu, đề xuất định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên bauxite Tây Nguyên” Hiện là Giảng viên chính tại Trường Đại học Tân Trào (TQU) Giảng dạy: Quản lý môi trường; Ô nhiễm môi trường; Đánh giá tác động môi trường Nghiên cứu: Kinh tế môi trường; Quản lý tài nguyên và môi trường; Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên; Đánh giá tác động môi trường Theo đuổi hướng nghiên cứu kinh tế môi trường từ những năm còn là sinh viên và tham gia nghiên cứu khoa học sinh viên từ năm 2010. Là tác giả chính hoặc đồng tác giả của 7 bài báo thuộc nhóm Q1, 1 bài báo Q2 cùng nhiều công bố khoa học trong nước và quốc tế khác; thường xuyên trình bày báo cáo tại các hội nghị khoa học quốc tế. Bên cạnh công tác giảng dạy và nghiên cứu, TS. Trịnh Phương Ngọc còn là một trong những gương mặt tích cực trong hoạt động hợp tác quốc tế của Trường Đại học Tân Trào. Với vai trò kiêm nhiệm tại Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế, chị đã góp phần kết nối và mở rộng mạng lưới đối tác của nhà trường, thúc đẩy các chương trình hợp tác học thuật, trao đổi sinh viên và giảng viên, đồng thời đưa hình ảnh của Trường Đại học Tân Trào đến gần hơn với cộng đồng học thuật quốc tế. Từ một nữ sinh Tuyên Quang xinh đẹp, năng động, thông minh và hài hước của khóa đầu tiên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, TS. Trịnh Phương Ngọc đã trưởng thành trở thành một giảng viên, nhà khoa học trẻ có nhiều thành tích đáng tự hào. Hành trình của chị là minh chứng sinh động cho giá trị của nền tảng đào tạo cơ bản vững chắc tại Khoa Địa chất, đồng thời cho thấy khi kiến thức chuyên môn được kết hợp với tinh thần cầu tiến, khả năng hội nhập và sự nỗ lực không ngừng, mỗi người đều có thể thích nghi, phát triển và khẳng định mình trong những môi trường làm việc đa dạng của xã hội hiện đại. H.N

Khoa học Công nghệ

THÔNG BÁO SỐ 1 VỀ HỘI THẢO KHOA HỌC TOÀN QUỐC VÀ THƯ MỜI VIẾT BÀI HỘI THẢO HỘI THẢO KHOA HỌC TOÀN QUỐC Nghiên cứu cơ bản trong Địa chất – Khoáng sản – Năng lượng phục vụ phát triển sản phẩm chiến lược và quản lý tài nguyên môi trường Nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHKHTN, ĐHQGHN) phối hợp với các Hội/Viện nghiên cứu/Trường đại học đồng tổ Hội thảo khoa học toàn quốc “Nghiên cứu cơ bản trong Địa chất – Khoáng sản – Năng lượng phục vụ phát triển sản phẩm chiến lược và quản lý tài nguyên môi trường”. Trường ĐHKHTN trân trọng thông báo và kính mời các đơn vị nghiên cứu, các nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia, nghiên cứu sinh và học viên cao học đăng ký viết bài và tham dự Hội thảo. Hội thảo là diễn đàn khoa học uy tín để các nhà nghiên cứu, chuyên gia, và nhà quản lý trao đổi các kết quả nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực Khoa học Trái đất. Kết quả hội thảo sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc hình thành các sản phẩm chiến lược, phục vụ phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng và biến đổi khí hậu. 1. Nội dung chính của Hội thảo Nghiên cứu cơ bản về nguồn gốc, quy luật phân bố, đặc điểm địa chất – địa hóa các loại khoáng sản quan trọng, khoáng sản chiến lược và vật liệu mới phục vụ công nghiệp công nghệ cao; Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc tìm kiếm, đánh giá tiềm năng và định hướng khai thác – sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên khoáng sản gắn với phát triển chuỗi giá trị sản phẩm; Nghiên cứu địa chất năng lượng: dầu khí, than, khí hydrate, địa nhiệt, khoáng sản cho năng lượng tái tạo; tiềm năng lưu giữ carbon (CCS) và chuyển dịch năng lượng; Nghiên cứu địa môi trường và công nghệ địa chất phục vụ kiểm soát ô nhiễm, phục hồi môi trường sau khai thác và bảo đảm an ninh tài nguyên – năng lượng; Nghiên cứu, dự báo, cảnh báo sớm và đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng chiến lược; Nghiên cứu cấu trúc sâu, tiến hóa kiến tạo, cổ môi trường – cổ khí hậu và các quá trình địa động lực làm cơ sở khoa học cho dự báo tài nguyên, tai biến địa chất và quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng chiến lược; Công nghệ địa không gian phục vụ tìm kiếm tài nguyên, quy hoạch môi trường và phát triển năng lượng; Nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách, công nghệ phục vụ việc quản lý tài nguyên môi trường bền vững. 2. Thời gian và địa điểm tổ chức – Thời gian: ngày 30 tháng 10 năm 2026. – Địa điểm: Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, phường Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. – Ngôn ngữ sử dụng trong Hội thảo: Tiếng Việt 3. Thể lệ gửi bài – Đăng ký tham gia tại: https://forms.gle/6FxN224mDR7UhQz36. – Mẫu báo cáo tóm tắt, báo cáo tóm tắt mở rộng, báo cáo toàn văn được đăng tải trên website https://geology.hus.vnu.edu.vn/ – Gửi báo cáo toàn văn hoặc tóm tắt mở rộng (Extended abstract) theo mẫu về Ban thư kí của Hội thảo theo địa chỉ: hoithao.kdc@hus.edu.vn, trong đó: + Quy định về gửi báo cáo toàn văn (theo mẫu): tối đa 10 trang A4 (bao gồm các hình ảnh, bảng biểu, tài liệu tham khảo); + Quy định về tóm tắt mở rộng (theo mẫu): tối đa 04 trang A4 (bao gồm các hình ảnh, bảng biểu, tài liệu tham khảo). – Phản biện: Các bài viết sẽ được phản biện kín và sẽ được đăng trong kỷ yếu hội thảo có mã số ISBN nếu đáp ứng được yêu cầu chất lượng. 4. Các mốc thời gian quan trọng Ngày 15/06/2026: Hạn nộp tóm tắt Ngày 01/08/2026: Hạn nộp bài toàn văn hoặc tóm tắt mở rộng Ngày 30/10/2026: Tổ chức hội thảo 5. Thông tin liên hệ – TS. Trần Đăng Quy, Khoa Địa chất, Trường ĐHKHTN – Trưởng Ban thư ký Hội thảo. ĐT: 0967790715, Email: quytrandang@hus.edu.vn/ hoithao.kdc@hus.edu.vn. – PGS. TS. Lưu Việt Dũng, Khoa Địa chất, Trường ĐHKHTN – Phó Trưởng Ban thư ký Hội thảo. ĐT: 0904729009, Email: dungluuviet@hus.edu.vn. – Thông tin thông báo về Hội thảo sẽ được đăng tải trên website:  https://geology.hus.vnu.edu.vn/ Rất mong nhận được sự quan tâm và tham gia của Quý tác giả. Xin trân trọng cảm ơn./.