GÓC NHÌN CỦA GIẢNG VIÊN: TỪ ĐẤT HIẾM ĐẾN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: VÌ SAO XÃ HỘI VẪN CẦN NHỮNG NHÀ ĐỊA CHẤT?
Mỗi mùa tuyển sinh, với vai trò là giảng viên và cán bộ quản lý tại Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, tôi thường nhận được rất nhiều câu hỏi từ phụ huynh và học sinh về việc nên chọn ngành nào, trường nào. Sau nhiều năm làm công tác đào tạo và tiếp xúc với hàng trăm sinh viên, tôi nhận ra rằng việc lựa chọn ngành học thường rơi vào ba trường hợp.
Trường hợp thứ nhất có lẽ là lý tưởng nhất. Đó là khi một học sinh có năng lực học tập rất tốt, sở thích rõ ràng và ngành nghề yêu thích cũng hoàn toàn phù hợp với năng lực của mình. Chẳng hạn, một học sinh thực sự yêu thích ngành Y, học tốt các môn khoa học tự nhiên và luôn đạt kết quả rất cao. Với những trường hợp như vậy, việc lựa chọn thường khá dễ dàng. Các em gần như không cần ai tư vấn, bởi bản thân đã biết mình muốn gì và có đủ năng lực để theo đuổi mục tiêu đó. Tuy nhiên, trên thực tế, không nhiều học sinh có được sự thuận lợi này.
Trường hợp thứ hai là khi các em có một ngành học rất yêu thích nhưng năng lực hiện tại chưa thực sự phù hợp. Khi đó, các em phải đứng trước một lựa chọn không hề dễ dàng: tiếp tục theo đuổi ước mơ với nhiều nỗ lực và cả rủi ro, hay lựa chọn một ngành khác phù hợp hơn với khả năng của mình. Những quyết định như vậy luôn cần được cân nhắc kỹ lưỡng, bởi sự cố gắng là rất quan trọng, nhưng sự phù hợp cũng quan trọng không kém.

Nguyễn Thị Huyền Trang, K67 Khoa Địa chất
Các em thuộc nhóm này thường đặt rất nhiều nguyện vọng. Một vài nguyện vọng đầu là những ngành thực sự yêu thích, nhưng càng về sau, việc lựa chọn đôi khi trở nên khá cảm tính. Không ít em đăng ký thêm nhiều ngành chỉ để “chắc suất đỗ”, trong khi chưa thực sự hiểu ngành đó học gì, làm gì, có phù hợp với mình hay không. Tôi còn nhớ những năm trước, khi thí sinh được đăng ký số lượng nguyện vọng gần như không giới hạn, đã có những sinh viên trúng tuyển vào ngành Địa chất học của Khoa Địa chất, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN với thứ tự nguyện vọng trên 30. Điều đó có nghĩa là các em gần như chưa từng nghĩ mình sẽ học địa chất cho đến khi kết quả tuyển sinh được công bố.
Trong thực tế, những trường hợp như vậy thường gặp nhiều khó khăn hơn trong giai đoạn đầu đại học. Khi chưa hiểu rõ ngành học và cũng chưa thực sự yêu thích lĩnh vực mình theo đuổi, việc duy trì động lực học tập không phải điều dễ dàng. Có em quyết định không nhập học, có em nhập học rồi xin thôi học để thi lại vào ngành khác. Cũng có những em kiên trì ở lại và dần tìm thấy niềm yêu thích với ngành nghề mình đang học. Tuy nhiên, kinh nghiệm của tôi cho thấy việc lựa chọn một ngành học không phù hợp ngay từ đầu thường khiến các em phải trả giá bằng thời gian, công sức để học đuổi vào hai năm cuối và đôi khi cả những cơ hội quý giá trong những năm tuổi trẻ.

Nguyễn Trà Mi, K65 Khoa Địa chất, gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam
Trường hợp thứ ba, và theo tôi cũng là trường hợp khó nhất, là tìm được điểm giao nhau giữa ba yếu tố: sở thích cá nhân, năng lực bản thân và nhu cầu của xã hội. Một ngành học có thể rất hấp dẫn nhưng nhu cầu nhân lực không lớn. Một ngành khác có nhu cầu rất cao nhưng bản thân người học lại không thực sự hứng thú. Cũng có những ngành phù hợp với năng lực, xã hội đang rất cần, nhưng vì ít người biết đến nên thường bị bỏ qua trong quá trình lựa chọn.
Tôi cho rằng những người tìm được điểm giao nhau của ba yếu tố đó thường có nhiều cơ hội hơn trong tương lai. Họ học đúng ngành mình có khả năng theo đuổi, làm công việc mà mình yêu thích, đồng thời đóng góp vào những lĩnh vực mà xã hội thực sự cần. Khi đó, việc học tập, làm việc và phát triển nghề nghiệp thường trở nên tự nhiên và bền vững hơn rất nhiều.
Có lẽ vì thế mà tôi luôn nghĩ rằng câu hỏi quan trọng nhất khi chọn ngành không phải là “ngành nào đang hot?” hay “ngành nào có mức lương cao nhất hiện nay?”, mà là “ngành nào vẫn còn giá trị sau 20 hoặc 30 năm nữa?”.
Thoạt nghe, đây có vẻ là một câu hỏi rất khó trả lời. Không ai biết chính xác 20 hay 30 năm nữa thế giới sẽ thay đổi như thế nào. Nhưng có một điều gần như chắc chắn: rất nhiều công việc mà chúng ta đang quen thuộc ngày hôm nay sẽ thay đổi sâu sắc, thậm chí biến mất. Chúng ta đang sống trong thời đại mà trí tuệ nhân tạo phát triển với tốc độ chưa từng có. AI đã có thể viết báo cáo, dịch thuật, lập trình, thiết kế, phân tích dữ liệu và hỗ trợ thực hiện rất nhiều công việc vốn trước đây chỉ con người mới làm được. Chắc chắn AI sẽ không thay thế hoàn toàn con người, nhưng AI sẽ thay thế những công việc có thể được chuẩn hóa, lặp lại và dễ dàng sao chép. Điều đó có nghĩa là trong tương lai, nếu một người chỉ làm được những gì mà AI cũng có thể làm, thậm chí làm nhanh hơn và rẻ hơn, thì lợi thế cạnh tranh của người đó sẽ ngày càng giảm. Giá trị của con người sẽ không còn nằm ở việc ghi nhớ nhiều thông tin hơn máy tính hay xử lý dữ liệu nhanh hơn thuật toán. Giá trị của con người sẽ nằm ở khả năng đặt ra những câu hỏi mới, phát hiện những vấn đề mới và tạo ra những ý tưởng mới.
Nói cách khác, khi công nghệ ngày càng thông minh hơn, thứ tạo nên khác biệt giữa người với người sẽ không còn là khả năng lặp lại những gì đã biết, mà là khả năng sáng tạo ra những điều chưa từng có. Và điều thú vị là câu chuyện của mỗi cá nhân cũng phản ánh phần nào câu chuyện phát triển của một quốc gia.

Khảo sát thực địa tại Biển Hồ (2024)
Những người thuộc thế hệ 7X, 8X hay đầu 9X chắc vẫn còn nhớ một thời mà mong muốn lớn nhất của nhiều gia đình đơn giản chỉ là “ăn no mặc ấm“. Khi điều kiện kinh tế khá hơn, người ta nói đến “ăn chắc mặc bền“. Sau đó là “ăn ngon mặc đẹp“. Và ngày nay, trong một bộ phận không nhỏ của xã hội, người ta đã bắt đầu quan tâm đến chuyện “ăn kiêng mặc mốt“, đến sức khỏe, chất lượng sống, giáo dục, môi trường và những giá trị phát triển bền vững. Sự thay đổi đó phản ánh một thực tế rất rõ ràng: Việt Nam đã khác rất nhiều so với cách đây hai hoặc ba thập kỷ. Thu nhập bình quân đầu người tăng lên, đời sống vật chất được cải thiện và những nhu cầu của xã hội cũng thay đổi theo.
Khi một quốc gia còn đang tập trung giải quyết các nhu cầu cơ bản, ưu tiên hàng đầu thường là sản xuất nhiều hơn, xây dựng nhiều hơn và tạo ra nhiều việc làm hơn. Nhưng khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, câu hỏi đặt ra không còn là làm thế nào để sản xuất nhiều hơn, mà là làm thế nào để tạo ra những giá trị mà người khác chưa có.
Đó cũng là lý do vì sao nhiều quốc gia dù đã đạt mức thu nhập trung bình nhưng không thể bứt phá để trở thành những nền kinh tế hàng đầu. Họ có thể có nhà máy, có hạ tầng, có nguồn nhân lực dồi dào, nhưng lại thiếu khả năng tạo ra tri thức mới, công nghệ mới và những sản phẩm mà thế giới chưa có. Các nhà kinh tế gọi đó là “bẫy thu nhập trung bình”.
Thực tế phát triển của nhiều quốc gia cho thấy chìa khóa để thoát khỏi cái bẫy đó không nằm ở việc làm nhiều hơn, mà nằm ở việc sáng tạo nhiều hơn. Có lẽ vì thế mà trong những năm gần đây, chúng ta ngày càng nghe nhiều hơn những khái niệm như công nghệ lõi, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ đại dương, công nghệ lòng đất, đất hiếm, chuyển đổi số, an ninh tài nguyên hay đổi mới sáng tạo. Cùng với đó là các chương trình đầu tư cho khoa học công nghệ, các học bổng dành cho khoa học cơ bản và các chương trình đào tạo nhân lực cho những lĩnh vực công nghệ chiến lược của quốc gia. Theo tôi, đây không phải là những xu hướng nhất thời. Đó là dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang từng bước chuyển từ mô hình phát triển dựa chủ yếu vào lao động và tài nguyên sang mô hình phát triển dựa trên tri thức và sáng tạo. Và khi nói đến tri thức và sáng tạo, chúng ta không thể bỏ qua vai trò của khoa học cơ bản.

Giảng viên Khoa Địa chất khảo sát hang động tại Tam Chúc năm 2025
ĐỊA CHẤT HỌC VÀ NGHỊCH LÝ NHÂN LỰC TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ
Có lẽ đến đây nhiều người sẽ đặt một câu hỏi hoàn toàn hợp lý: tất cả những điều đó liên quan gì đến Địa chất học? Đó cũng là câu hỏi mà chúng tôi thường xuyên nhận được từ phụ huynh và học sinh khi tìm hiểu về ngành Địa chất học tại Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN.
Tôi cho rằng một phần nguyên nhân đến từ cách xã hội nhìn nhận về nghề địa chất trong nhiều năm qua. Trong suy nghĩ của không ít người, địa chất là một ngành cổ điển của thế kỷ trước. Khi nhắc đến địa chất, người ta thường liên tưởng đến những chuyến đi thực địa dài ngày ở vùng núi xa xôi, những công việc khoan khảo sát, địa chất công trình, khai thác than hay khai thác mỏ. Đó thường được xem là những công việc vất vả, nhiều rủi ro, điều kiện làm việc khó khăn, thu nhập không cao và chủ yếu gắn với khu vực nhà nước. Không ít phụ huynh vì thế cảm thấy e ngại khi con em mình lựa chọn theo học ngành này. Thực tế, những nhận thức đó không hoàn toàn sai nếu nhìn từ bối cảnh cách đây vài chục năm. Tuy nhiên, xã hội đã thay đổi rất nhiều, trong khi nhận thức về ngành địa chất đôi khi lại thay đổi chậm hơn thực tế. Điều đáng chú ý là trong khi nhiều người cho rằng ngành địa chất đang dần thu hẹp vai trò thì những người làm nghề lại chứng kiến một câu chuyện hoàn toàn khác.

Giảng viên Khoa Địa chất khảo sát hồ Ea Sno năm 2024
Tại Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, giai đoạn từ khoảng năm 2018 đến năm 2024 có thể xem là giai đoạn khó khăn nhất của ngành Địa chất học. Trong nhiều năm liên tiếp, số lượng sinh viên nhập học mỗi khóa thường dưới 10 sinh viên. Đó gần như là giai đoạn chạm đáy của tuyển sinh ngành địa chất. Hệ quả là số lượng sinh viên tốt nghiệp hàng năm giảm mạnh, kéo theo sự thiếu hụt nguồn nhân lực trẻ cho nhiều cơ quan và doanh nghiệp.
Điều thú vị là nhu cầu nhân lực của xã hội không hề giảm theo. Trong nhiều năm qua, tôi thường xuyên nhận được điện thoại hoặc email từ bạn bè, đồng nghiệp, doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu nhờ giới thiệu sinh viên mới tốt nghiệp. Nhu cầu tuyển dụng trải rộng từ địa chất công trình, khai thác khoáng sản, địa chất môi trường, kiểm định đá quý, các viện nghiên cứu cho đến các cơ hội học thạc sĩ và tiến sĩ ở nước ngoài. Thế nhưng rất nhiều lần tôi phải trả lời rằng không có người để giới thiệu.
Có thời điểm, số lượng việc làm nhiều hơn số lượng sinh viên tốt nghiệp. Đó là một nghịch lý khá thú vị. Trong khi nhiều người lo ngại sinh viên địa chất ra trường khó tìm việc thì những người trực tiếp sử dụng lao động lại lo không tìm được người để tuyển dụng. Điều này cho thấy khoảng cách khá lớn giữa nhận thức của xã hội và nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Ngành địa chất suy giảm không phải vì xã hội không cần địa chất, mà vì xã hội chưa nhận ra mình đang cần địa chất đến mức nào.
Rất may là cuộc khủng hoảng nhân lực đó đang có dấu hiệu chấm dứt. Trong khoảng hai năm trở lại đây, số lượng sinh viên theo học ngành Địa chất học đã tăng trở lại, tiệm cận khoảng 30 sinh viên mỗi khóa và tiếp tục có xu hướng tăng. Tôi cho rằng sự thay đổi này phản ánh một thực tế rằng ngày càng nhiều học sinh và phụ huynh bắt đầu nhìn nhận lại vai trò của khoa học Trái đất trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Tuy nhiên, điều đáng chú ý hơn cả không phải là số lượng sinh viên tăng hay giảm. Điều đáng chú ý là nhu cầu xã hội đối với các nhà địa chất đang thay đổi rất nhanh.
Nếu như trước đây người ta chủ yếu nghĩ đến khai thác than, quặng hay khảo sát công trình, thì ngày nay các nhà địa chất còn tham gia giải quyết những vấn đề hoàn toàn mới: tìm kiếm và đánh giá các nguồn khoáng sản chiến lược, nghiên cứu đất hiếm phục vụ công nghiệp công nghệ cao, điều tra tài nguyên nước, đánh giá tai biến địa chất, nghiên cứu biến đổi khí hậu, kiểm định đá quý, bảo tồn di sản địa chất và xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên phục vụ chuyển đổi số. Nói cách khác, địa chất học ngày nay không đơn thuần là khoa học nghiên cứu về đá hay khoáng sản. Đó là khoa học nghiên cứu về Trái đất và các nguồn tài nguyên của Trái đất nhằm phục vụ phát triển bền vững. Và nếu nhìn vào những từ khóa được nhắc đến nhiều nhất hiện nay như đất hiếm, công nghệ lòng đất, chuyển đổi xanh, an ninh tài nguyên, trí tuệ nhân tạo hay đổi mới sáng tạo, chúng ta sẽ thấy phía sau mỗi lĩnh vực đó đều có dấu ấn của khoa học Trái đất.
Có lẽ vì vậy, câu hỏi thực sự không phải là địa chất học có còn cần thiết hay không. Câu hỏi là: trong một thế giới đang nói về AI, đất hiếm, bán dẫn, chuyển đổi xanh và an ninh tài nguyên, xã hội đang cần những nhà địa chất làm gì?

Mai Anh, K70 Địa chất (2025)
ĐẤT HIẾM, CÔNG NGHỆ LÕI VÀ SỰ TRỞ LẠI CỦA ĐỊA CHẤT HỌC
Có lẽ không có ví dụ nào minh họa rõ hơn cho sự thay đổi vị thế của địa chất học trong thế kỷ XXI bằng câu chuyện đất hiếm. Khoảng hai mươi năm trước, rất ít người ngoài ngành địa chất quan tâm đến đất hiếm. Ngay cả trong các cuộc trò chuyện về tài nguyên khoáng sản, đất hiếm cũng chỉ được xem là một nhóm nguyên tố khá đặc biệt, có giá trị khoa học nhiều hơn giá trị kinh tế. Nhưng ngày nay, đất hiếm đã trở thành một trong những từ khóa xuất hiện thường xuyên trên các diễn đàn kinh tế, công nghệ, năng lượng và địa chính trị toàn cầu.
Lý do rất đơn giản. Thế giới đang bước vào cuộc chuyển đổi công nghệ lớn nhất kể từ cuộc cách mạng công nghiệp. Xe điện, năng lượng tái tạo, robot, trí tuệ nhân tạo, vệ tinh, điện thoại thông minh, máy bay không người lái và nhiều công nghệ quốc phòng hiện đại đều phụ thuộc vào một nhóm nguyên tố mà phần lớn chúng ta chưa từng nghe tên khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Nhiều người sẽ ngạc nhiên khi biết rằng ngay cả chiếc điện thoại trong túi mình cũng là một sản phẩm có liên quan đến địa chất học. Bộ rung nhỏ bé bên trong điện thoại có thể tạo ra những rung động rất mạnh nhờ các nam châm vĩnh cửu hiệu suất cao chứa neodymium và praseodymium – hai nguyên tố thuộc nhóm đất hiếm. Loa điện thoại, tai nghe không dây, ổ cứng máy tính và nhiều linh kiện điện tử khác cũng sử dụng các loại nam châm tương tự. Màn hình điện thoại ngày càng cho màu sắc rực rỡ và trung thực hơn nhờ các nguyên tố đất hiếm như europium, terbium và yttrium được sử dụng trong các vật liệu phát quang. Chúng ta sử dụng những công nghệ đó mỗi ngày nhưng rất ít khi nghĩ đến nguồn gốc của chúng bắt đầu từ đâu.
Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, vai trò của đất hiếm còn rõ ràng hơn. Một tua-bin điện gió ngoài khơi công suất lớn có thể cần hàng trăm kilogram đến hàng tấn nam châm đất hiếm để tạo ra hệ thống phát điện hiệu suất cao. Xe điện hiện đại cũng phụ thuộc rất nhiều vào các loại nam châm này trong động cơ điện để tăng hiệu suất, giảm tiêu thụ điện. Nói cách khác, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp mà thế giới đang theo đuổi không thể tách rời khỏi nguồn cung đất hiếm.

Giảng viên Khoa Địa chất khảo sát Biển Hồ (2024)
Đất hiếm còn hiện diện ở những nơi mà người sử dụng hầu như không nhận ra. Chúng được sử dụng trong các bộ xúc tác của ngành công nghiệp hóa dầu, trong xử lý khí thải, trong pin, vật liệu laser, cảm biến, thiết bị y tế và nhiều lĩnh vực công nghệ cao khác. Một số nhà khoa học gọi đất hiếm là “vitamin của công nghiệp hiện đại”. Hàm lượng sử dụng thường không lớn, nhưng thiếu chúng thì rất nhiều công nghệ sẽ không thể hoạt động.
Chính vì vai trò đó mà đất hiếm đã trở thành một vấn đề địa chính trị toàn cầu. Trong nhiều năm, phần lớn nguồn cung đất hiếm của thế giới tập trung ở Trung Quốc. Điều này khiến các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu đặc biệt quan tâm đến việc đa dạng hóa nguồn cung. Mỗi khi xuất hiện căng thẳng thương mại hoặc cạnh tranh công nghệ giữa các cường quốc, câu chuyện đất hiếm lại xuất hiện trên các mặt báo. Cuộc cạnh tranh về đất hiếm thực chất không chỉ là cạnh tranh về khoáng sản, mà là cạnh tranh về công nghệ, sản xuất và vị thế quốc gia trong tương lai.
Điều thú vị là đất hiếm thật ra không hiếm, và không phải là một loại khoáng sản duy nhất. Đó là một nhóm gồm 17 nguyên tố hóa học có tính chất khá giống nhau. Chúng có thể tập trung trong nhiều kiểu mỏ khác nhau như carbonatit, đá magma kiềm, sa khoáng hoặc các lớp phong hóa giàu đất hiếm. Mỗi kiểu mỏ lại có đặc điểm địa chất, công nghệ khai thác và hiệu quả kinh tế hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, việc phát hiện một khu vực có đất hiếm mới chỉ là bước khởi đầu. Để biến tài nguyên thành sản phẩm có giá trị cần rất nhiều công việc tiếp theo từ điều tra địa chất, thăm dò, đánh giá trữ lượng, tuyển khoáng, chế biến cho đến kiểm soát tác động môi trường.

Sinh viên Khoa Địa chất thực tập thực tế tại Hòa Bình (2025)
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng đất hiếm đáng kể trên thế giới. Các mỏ và điểm quặng đất hiếm quan trọng phân bố chủ yếu ở vùng Tây Bắc như Lai Châu, Lào Cai và Yên Bái, trong đó nổi tiếng nhất là khu vực Đông Pao. Tuy nhiên, giữa tiềm năng tài nguyên và khả năng khai thác hiệu quả vẫn còn một khoảng cách rất lớn. Không phải cứ có đất hiếm là có thể trở thành cường quốc đất hiếm. Điều khó nhất không phải là biết đất hiếm tồn tại ở đâu, mà là hiểu chúng được hình thành như thế nào, phân bố ra sao, làm thế nào để khai thác hiệu quả, đồng thời hạn chế tối đa tác động môi trường. Đây chính là nơi mà vai trò của các nhà địa chất trở nên đặc biệt quan trọng.
Muốn tìm kiếm thêm các mỏ mới, cần các nhà địa chất. Muốn hiểu quy luật phân bố của quặng, cần các nhà địa chất. Muốn đánh giá trữ lượng, thiết kế chương trình thăm dò, lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp, vẫn cần các nhà địa chất. Và muốn khai thác tài nguyên một cách hiệu quả nhưng vẫn bảo vệ môi trường, vai trò của khoa học Trái đất càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Đất hiếm chỉ là một ví dụ. Nhưng đó là một ví dụ rất rõ cho thấy những nghiên cứu tưởng như xa rời thực tiễn trong địa chất học ngày hôm nay hoàn toàn có thể trở thành nền tảng cho các công nghệ chiến lược của ngày mai. Có lẽ vì vậy, khi nói về địa chất học trong thế kỷ XXI, tôi không nghĩ đến những mẫu đá hay những mẫu khoáng vật nằm trong tủ kính. Tôi nghĩ đến những câu hỏi lớn hơn: làm thế nào để bảo đảm an ninh tài nguyên cho một đất nước đang phát triển, làm thế nào để xây dựng các công nghệ lõi của tương lai, và làm thế nào để Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thay vì chỉ xuất khẩu tài nguyên thô.

Cán bộ Khoa Địa chất khảo sát hồ Đắk Nuê (2024)
Học Địa chất học tại Khoa Địa chất, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN là học gì?
Một trong những câu hỏi mà tôi thường nhận được từ phụ huynh và học sinh là: học Địa chất học thì học những gì?
Tôi nghĩ rằng nhiều người vẫn hình dung sinh viên địa chất chủ yếu học về đá, khoáng sản hoặc đi thực địa ngoài trời. Thực tế, đó chỉ là một phần của chương trình đào tạo. Địa chất học hiện đại là ngành khoa học nghiên cứu về Trái đất, trọng tâm là phía dưới bề mặt, từ lịch sử hình thành hành tinh, các quá trình địa chất, sự tiến hóa của môi trường tự nhiên, cho đến tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, địa chất công trình, tai biến thiên nhiên và các vấn đề môi trường.
Trong hai năm đầu, sinh viên được trang bị nền tảng khoa học tự nhiên khá rộng với toán học, vật lý, hóa học, tin học, khoa học dữ liệu, GIS và viễn thám. Đây là những công cụ ngày càng quan trọng trong thời đại chuyển đổi số. Một nhà địa chất hiện đại không chỉ làm việc với búa địa chất và bản đồ giấy như nhiều người vẫn hình dung, mà còn làm việc với cơ sở dữ liệu lớn, ảnh vệ tinh, mô hình không gian ba chiều, trí tuệ nhân tạo và các hệ thống quan trắc hiện đại.
Trên nền tảng đó, sinh viên được tiếp cận các học phần cốt lõi của khoa học Trái đất như Khoáng vật học, Thạch học, Cổ sinh học, Địa tầng học, Địa chất cấu tạo, Địa hóa học, Khoáng sản học, Địa chất môi trường, Địa chất Việt Nam và nhiều học phần thực địa. Đây là giai đoạn giúp sinh viên hình thành tư duy địa chất – tức là khả năng nhìn một hiện tượng tự nhiên và hiểu được những quá trình đã tạo nên nó trong hàng nghìn, hàng triệu hoặc thậm chí hàng trăm triệu năm.
Từ năm thứ ba, sinh viên sẽ lựa chọn một trong ba chuyên ngành đào tạo chính tùy theo sở thích và định hướng nghề nghiệp của mình.

Cán bộ Khoa Địa chất khảo sát hang động tại Tam Chúc (2025)
Những bạn yêu thích nghiên cứu địa chất truyền thống, tài nguyên khoáng sản, đất hiếm, địa hóa, địa chất cấu tạo hay muốn theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học thường lựa chọn chuyên ngành Địa chất học. Đây là chuyên ngành gần với hình ảnh “nhà địa chất” mà nhiều người vẫn hình dung nhất, nhưng đồng thời cũng là nền tảng của rất nhiều lĩnh vực mới liên quan đến khoáng sản chiến lược, năng lượng và tài nguyên.
Những bạn quan tâm đến đá quý, trang sức, kim cương, ruby, sapphire, ngọc jade hay các phương pháp kiểm định đá quý thường lựa chọn chuyên ngành Ngọc học – Đá quý. Đây là một lĩnh vực khá đặc biệt của Khoa Địa chất. Sinh viên được học từ nền tảng khoáng vật học đến các phương pháp giám định, phân biệt đá tự nhiên, đá xử lý và đá tổng hợp. Trong bối cảnh thị trường đá quý và trang sức ngày càng phát triển, nhu cầu về những chuyên gia kiểm định có kiến thức khoa học và đạo đức nghề nghiệp ngày càng rõ rệt.
Những bạn thích ứng dụng địa chất vào xây dựng, hạ tầng, môi trường và phòng chống thiên tai thường lựa chọn chuyên ngành Công nghệ Địa kỹ thuật – Địa chất Môi trường. Đây là lĩnh vực gắn rất chặt với thực tiễn phát triển của đất nước. Các em được học về địa chất công trình, nền móng, tai biến địa chất, sạt lở, lún sụt, địa chất môi trường và các giải pháp kỹ thuật phục vụ quy hoạch, xây dựng và phát triển bền vững.
Mô hình đào tạo của Khoa Địa chất là sinh viên không chỉ học lý thuyết trên lớp, các em được đi thực địa, làm việc với mẫu vật thật, sử dụng thiết bị phân tích, xử lý số liệu và tham gia nghiên cứu khoa học từ khá sớm. Nhiều người thường nghĩ nghiên cứu khoa học chỉ dành cho học viên cao học hoặc nghiên cứu sinh. Trên thực tế, tại Khoa Địa chất, không ít sinh viên đã tham gia các đề tài nghiên cứu ngay từ năm thứ nhất hoặc năm thứ hai. Các em được làm việc cùng giảng viên trong các nhóm nghiên cứu, tham gia hội nghị khoa học sinh viên, viết báo cáo khoa học và thậm chí có những công bố quốc tế đầu tiên ngay khi còn là sinh viên đại học.
Theo tôi, đây là một lợi thế rất lớn của môi trường đào tạo định hướng nghiên cứu. Không phải tất cả sinh viên sau này đều trở thành nhà khoa học, nhưng quá trình nghiên cứu giúp các em rèn luyện khả năng đặt câu hỏi, thu thập dữ liệu, phân tích thông tin, giải quyết vấn đề và tự học. Trong thời đại AI, những năng lực đó có giá trị lâu dài hơn rất nhiều so với việc chỉ ghi nhớ kiến thức có sẵn.
Một điểm mà phụ huynh thường quan tâm là điều kiện học tập. Hiện nay sinh viên ngành Địa chất học học tập chủ yếu tại cơ sở 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội. Sinh viên không phải học chính khóa tại Hòa Lạc. Học phí hiện nay thuộc nhóm thấp trong hệ thống giáo dục đại học, trung bình dưới 2 triệu đồng mỗi tháng. Chương trình đào tạo được thiết kế trong khoảng 4 năm, nhưng những sinh viên có kế hoạch học tập tốt hoàn toàn có thể hoàn thành chương trình trong khoảng 3,5 đến 4 năm.
Bên cạnh chương trình chuẩn, Khoa Địa chất còn có chương trình chất lượng cao dành cho những sinh viên mong muốn được đào tạo chuyên sâu hơn, tăng cường ngoại ngữ, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế. Đây là một lựa chọn phù hợp với những sinh viên có định hướng học tiếp sau đại học hoặc làm việc trong môi trường quốc tế.
Có lẽ điều quan trọng nhất không nằm ở việc học bao nhiêu môn hay học trong bao nhiêu năm. Điều quan trọng là sinh viên được trang bị những năng lực gì để bước vào một thế giới đang thay đổi rất nhanh. Và đó cũng là lý do vì sao tôi luôn cho rằng môi trường đại học nghiên cứu có giá trị đặc biệt. Nó không chỉ dạy sinh viên những gì đã biết, mà còn giúp các em học cách khám phá những điều chưa ai biết.

Cán bộ Khoa Địa chất khảo sát Hồ Tây (2024)
TỪ GIẢNG ĐƯỜNG ĐẾN THẾ GIỚI: cơ hội nghề nghiệp và những con đường phát triển của sinh viên Địa chất học
Nếu hỏi phụ huynh quan tâm điều gì nhất khi tìm hiểu một ngành học, tôi nghĩ câu trả lời thường không phải là chương trình đào tạo hay số tín chỉ. Điều mà nhiều người muốn biết nhất là: học xong thì làm gì, cơ hội nghề nghiệp ra sao và liệu ngành học đó có mang lại một tương lai ổn định cho con em mình hay không. Đó là một câu hỏi hoàn toàn chính đáng.
Trong nhiều năm qua, tôi nhận thấy một điều khá thú vị. Khi trò chuyện với học sinh phổ thông, câu hỏi thường là ngành học này có gì hay, có phù hợp với em không. Trong khi đó, khi trao đổi với phụ huynh, câu hỏi đầu tiên thường là ra trường có xin được việc không. Thực tế cho thấy, cơ hội nghề nghiệp của sinh viên Địa chất học hiện nay rộng hơn rất nhiều so với suy nghĩ của đa số mọi người.
Con đường quen thuộc nhất là làm việc trong các lĩnh vực điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò và khai thác khoáng sản. Đây là lĩnh vực đã gắn với địa chất học trong suốt nhiều thập kỷ và vẫn giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Khi Việt Nam ngày càng quan tâm đến các khoáng sản chiến lược như đất hiếm, lithium, niken, đồng hay các khoáng sản phục vụ chuyển đổi năng lượng, nhu cầu về đội ngũ chuyên gia địa chất có trình độ càng trở nên cấp thiết.
Một hướng đi khác là Địa chất công trình và Địa kỹ thuật. Mỗi tuyến đường cao tốc, mỗi cây cầu, mỗi khu đô thị, sân bay, cảng biển hay công trình ngầm đều cần có sự tham gia của các kỹ sư địa chất và địa kỹ thuật. Trước khi một công trình được xây dựng, người ta phải hiểu nền đất bên dưới có đặc điểm gì, có nguy cơ sụt lún hay không, có đứt gãy địa chất nào ảnh hưởng đến an toàn công trình hay không. Đây là lĩnh vực có nhu cầu nhân lực khá ổn định và gắn trực tiếp với quá trình phát triển hạ tầng của đất nước. Đối với những sinh viên theo chuyên ngành Công nghệ Địa kỹ thuật – Địa chất Môi trường, cơ hội nghề nghiệp còn mở rộng sang các lĩnh vực đánh giá tác động môi trường, quản lý tài nguyên nước, điều tra tai biến địa chất, giám sát sạt lở, lũ quét, lún sụt đất và ứng phó với biến đổi khí hậu. Khi các vấn đề môi trường và thiên tai ngày càng được quan tâm, nhu cầu về nguồn nhân lực trong lĩnh vực này được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong nhiều năm tới.

Diệu Linh (K69) – Khoa Địa chất
Một lĩnh vực khá đặc biệt của Khoa Địa chất là Ngọc học – Đá quý. Nhiều người bất ngờ khi biết rằng việc xác định một viên ruby là tự nhiên hay nhân tạo, một viên sapphire có được xử lý hay không, hay giá trị thực của một viên kim cương phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức khoa học. Những sinh viên theo chuyên ngành này có thể làm việc trong các trung tâm kiểm định đá quý, doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc đá quý, các cơ quan quản lý chất lượng hoặc tự phát triển hoạt động tư vấn, giám định độc lập.
Bên cạnh khu vực doanh nghiệp, sinh viên Địa chất học còn có thể làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu, trường đại học hoặc các tổ chức quốc tế liên quan đến tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững. Đây là con đường phù hợp với những bạn yêu thích nghiên cứu, giảng dạy hoặc muốn tham gia xây dựng chính sách trong các lĩnh vực liên quan đến khoa học Trái đất.
Điều mà tôi thường chia sẻ với sinh viên là: nghề nghiệp của một nhà địa chất ngày nay không còn bị giới hạn trong những gì chúng ta nhìn thấy cách đây vài chục năm. Công nghệ số, viễn thám, GIS, trí tuệ nhân tạo, mô hình hóa dữ liệu và các công nghệ phân tích hiện đại đang làm thay đổi rất nhanh cách thức làm việc của ngành địa chất. Những người hiểu đồng thời cả khoa học Trái đất và công nghệ hiện đại sẽ có rất nhiều cơ hội trong tương lai.
Một lợi thế khác của sinh viên Địa chất học là cơ hội học tiếp sau đại học ở nước ngoài. Trong nhiều năm qua, sinh viên và cựu sinh viên của Khoa Địa chất đã nhận được học bổng thạc sĩ và tiến sĩ tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Pháp, Úc, Đài Loan, Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác. Đối với những sinh viên có kết quả học tập tốt, tham gia nghiên cứu khoa học từ sớm và có khả năng ngoại ngữ, cơ hội tiếp cận các chương trình học bổng quốc tế là hoàn toàn khả thi.

Sinh viên K70 Địa chất thực tập thực tế tại Hòa Bình (2025)
Trong bối cảnh Việt Nam đang ưu tiên phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và các lĩnh vực công nghệ chiến lược, sinh viên các ngành khoa học cơ bản cũng đang có thêm nhiều cơ hội tiếp cận các chương trình hỗ trợ, học bổng và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những sinh viên muốn theo đuổi con đường nghiên cứu lâu dài.
Tôi thường kể cho sinh viên nghe câu chuyện của Nguyễn Trọng Vân, cựu sinh viên K57 của Khoa Địa chất. Vân từng có một khởi đầu không như mong muốn khi không đi theo con đường bác sĩ mà mình từng dự định. Nhưng thay vì xem Địa chất học là một lựa chọn bất đắc dĩ, Vân đã dần tìm thấy niềm yêu thích của mình trong những chuyến thực địa, những giờ học chuyên ngành và những cơ hội nghề nghiệp mà ngành học này mang lại.
Sau khi tốt nghiệp, Vân tiếp tục phát triển sự nghiệp trong lĩnh vực địa chất – khoáng sản và từng bước khẳng định năng lực của mình trong môi trường quốc tế. Hiện nay, Vân là Kỹ sư Địa chất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Tập đoàn Imerys (Pháp), một trong những tập đoàn vật liệu khoáng công nghiệp hàng đầu thế giới.
Tôi thích câu chuyện này không phải vì chức danh hay vị trí công việc của Vân. Điều khiến tôi ấn tượng hơn là hành trình của một người trẻ đã tìm được con đường phù hợp với mình sau khi cánh cửa đầu tiên không mở ra như mong đợi. Đó cũng là điều tôi thường nhắc với sinh viên: đôi khi thành công không đến từ việc bước vào đúng ngành học mà mình mơ ước khi 18 tuổi, mà đến từ việc tìm được ngành học phù hợp với năng lực của mình và kiên trì theo đuổi nó đủ lâu.
Có lẽ đó cũng là điều quan trọng nhất mà một ngành học có thể mang lại. Không phải một công việc cụ thể, không phải một mức lương cụ thể, mà là khả năng mở ra nhiều con đường phát triển khác nhau trong tương lai.

Sinh viên Khoa Địa chất thực tập thực tế tại Ba Vì (2025)
Địa chất học có phải là lựa chọn dành cho bạn?
Sau tất cả những điều đã chia sẻ, có lẽ câu hỏi cuối cùng vẫn là: liệu Địa chất học có phải là ngành học phù hợp với bạn?
Tôi nghĩ câu trả lời là không.
Cũng giống như Y khoa không dành cho tất cả mọi người, Công nghệ thông tin không dành cho tất cả mọi người hay Kinh tế không dành cho tất cả mọi người, Địa chất học cũng vậy. Đây không phải là ngành học mà ai cũng sẽ yêu thích. Sẽ có những bạn cảm thấy hứng thú với kinh doanh, tài chính, luật, y học hay nghệ thuật hơn là những câu chuyện về Trái đất, tài nguyên và môi trường. Điều đó hoàn toàn bình thường. Nhưng tôi cũng tin rằng có những bạn trẻ sẽ tìm thấy ở địa chất học một điều gì đó rất đặc biệt.
Đó là những bạn luôn tò mò về thế giới tự nhiên. Những bạn thích đặt câu hỏi về nguồn gốc của một ngọn núi, một dòng sông hay một loại khoáng sản. Những bạn thích khám phá, thích đi đây đi đó, thích làm việc với dữ liệu nhưng cũng thích quan sát thực tế ngoài hiện trường. Những bạn muốn hiểu sâu hơn về tài nguyên, môi trường, biến đổi khí hậu và những vấn đề lớn mà xã hội sẽ phải đối mặt trong nhiều thập kỷ tới. Đó cũng có thể là những bạn không chỉ muốn sử dụng công nghệ, mà còn muốn tham gia tạo ra nền tảng để công nghệ phát triển. Bởi phía sau nhiều công nghệ hiện đại nhất của thế giới ngày nay vẫn là những câu hỏi rất cơ bản về vật chất, năng lượng và tài nguyên của Trái đất.
Trong nhiều năm làm công tác đào tạo, tôi nhận ra rằng những sinh viên thành công nhất không phải lúc nào cũng là những người có điểm đầu vào cao nhất. Những người thành công thường là những người tìm được sự phù hợp giữa năng lực, sở thích và nhu cầu của xã hội. Khi ba yếu tố đó gặp nhau, việc học tập và phát triển nghề nghiệp trở nên tự nhiên hơn rất nhiều. Đó cũng chính là điều tôi đã đề cập ở phần đầu bài viết.
Nếu chỉ chọn một ngành học vì đang “hot”, rất có thể vài năm sau xu hướng đó sẽ thay đổi. Nếu chỉ chọn một ngành vì mức lương hiện tại cao hơn ngành khác vài triệu đồng mỗi tháng, rất có thể khoảng cách đó sẽ không còn ý nghĩa sau mười hay hai mươi năm nữa. Nhưng nếu lựa chọn được một lĩnh vực mà mình có khả năng theo đuổi lâu dài, đồng thời xã hội thực sự cần đến nó, thì giá trị của lựa chọn đó thường bền vững hơn nhiều.

Tôi thường nói với sinh viên rằng đại học không phải là nơi quyết định các em sẽ trở thành ai trong suốt phần đời còn lại. Đại học chỉ là nơi giúp các em xây dựng nền tảng để có thể tiếp tục học hỏi và thích nghi trong một thế giới luôn thay đổi. Một ngành học tốt không phải là ngành đảm bảo cho bạn một công việc duy nhất trong tương lai. Một ngành học tốt là ngành giúp bạn có đủ năng lực để bước qua nhiều cơ hội khác nhau trong tương lai. Địa chất học, theo tôi, là một ngành như vậy.
Từ những chuyến khảo sát ngoài thực địa đến những phòng thí nghiệm hiện đại. Từ những mẫu đá tưởng chừng vô tri đến câu chuyện về đất hiếm, xe điện, năng lượng tái tạo và công nghệ cao. Từ việc nghiên cứu quá khứ của Trái đất đến việc góp phần giải quyết những thách thức của tương lai. Địa chất học ngày nay rộng lớn hơn rất nhiều so với những gì phần lớn chúng ta từng hình dung.
Có một điều nữa mà tôi thường chia sẻ với sinh viên của mình. Ở những lĩnh vực đã quá đông người tham gia, việc tạo ra khác biệt đôi khi không dễ dàng. Nhưng trong những lĩnh vực còn nhiều dư địa phát triển, những người trẻ có năng lực và đam mê thực sự lại có cơ hội tiến rất xa. Địa chất học ở Việt Nam hiện nay có phần giống như vậy. Chúng ta đang bước vào giai đoạn mà đất nước cần nhiều hơn các chuyên gia về đất hiếm, khoáng sản chiến lược, địa chất môi trường, địa kỹ thuật, tài nguyên nước, địa chất biển, ngọc học và nhiều lĩnh vực khác của khoa học Trái đất. Trong khi đó, số lượng người được đào tạo bài bản và theo đuổi lâu dài các lĩnh vực này vẫn còn khá hạn chế.
Điều đó có nghĩa là nếu bạn thực sự yêu thích địa chất, có tinh thần khám phá, có khả năng học hỏi và sẵn sàng theo đuổi một lĩnh vực đủ lâu, thì cơ hội để trở thành một chuyên gia giỏi, một nhà khoa học có uy tín, một người dẫn dắt chuyên môn trong doanh nghiệp hay thậm chí là người mở ra những hướng nghiên cứu mới trong tương lai là hoàn toàn có thể. Không phải vì địa chất là con đường dễ đi, mà bởi đây vẫn là một lĩnh vực còn rất nhiều khoảng trống để những người trẻ tài năng tạo nên dấu ấn riêng của mình.
Có thể địa chất học sẽ không bao giờ là ngành học đông sinh viên nhất. Có thể nó cũng sẽ không phải là ngành được nhắc đến nhiều nhất trên các diễn đàn tuyển sinh. Nhưng nếu Việt Nam muốn phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nếu chúng ta muốn hiểu rõ hơn về tài nguyên của mình, bảo vệ môi trường của mình và xây dựng những công nghệ chiến lược của tương lai, thì tôi tin rằng địa chất học sẽ là một trong những ngành không thể thiếu.
Và biết đâu, trong số những học sinh đang đọc bài viết này hôm nay, sẽ có những người trở thành các nhà địa chất, nhà khoa học, chuyên gia đất hiếm, chuyên gia địa kỹ thuật, chuyên gia ngọc học hay những người góp phần giải quyết các bài toán lớn của đất nước trong vài thập kỷ tới.
H.N.
